Thông tư liên tịch số 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC được ban hành bởi Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao, quy định chi tiết về việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Thông tư liên tịch này điều chỉnh hoạt động phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thực hiện trình tự, thủ tục điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo theo các quy định liên quan của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối tượng áp dụng bao gồm:
- Cơ quan điều tra thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp.
- Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp.
- Người tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo, người bào chữa, người đại diện, người thân thích của bị can, bị cáo vắng mặt cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan khác.
Nguyên tắc thực hiện phối hợp
- Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế liên quan; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền bào chữa, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo.
- Bảo đảm sự thận trọng, khách quan, chặt chẽ, ngăn ngừa vi phạm hoặc lạm dụng; chỉ thực hiện các thủ tục vắng mặt khi có đủ điều kiện pháp lý.
- Tôn trọng và tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng.
Trường hợp và điều kiện áp dụng thủ tục vắng mặt
Việc ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng và xét xử vắng mặt bị can, bị cáo được áp dụng trong các trường hợp cụ thể sau:
- Bị can, bị cáo trốn hoặc không biết ở đâu và việc truy nã không có kết quả: Được xác định khi bị can, bị cáo cố ý trốn tránh, không chấp hành giấy triệu tập mà không có lý do bất khả kháng; hoặc cơ quan tố tụng đã xác minh nhưng không tìm được nơi ở; hoặc đã ra quyết định truy nã, áp dụng biện pháp truy bắt nhưng hết thời hạn tố tụng vẫn không bắt được và họ không đầu thú.
- Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập: Áp dụng khi có căn cứ xác định đối tượng đã xuất cảnh nhưng không rõ nơi cư trú, học tập ở nước ngoài; hoặc biết rõ nơi ở nhưng đã triệu tập, yêu cầu dẫn độ mà không thể đưa đối tượng về Việt Nam.
Để tiến hành các thủ tục vắng mặt, cơ quan tiến hành tố tụng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện:
- Đã thu thập đầy đủ chứng cứ, tài liệu để làm rõ các vấn đề cần chứng minh trong vụ án và đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.
- Bảo đảm tuyệt đối quyền bào chữa của bị can, bị cáo vắng mặt bằng cách thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích để họ nhờ người bào chữa; trường hợp họ không nhờ thì cơ quan tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định.
Quy trình kết luận điều tra đề nghị truy tố vắng mặt
- Cơ quan điều tra có trách nhiệm tiến hành các hoạt động xác minh, thu thập tài liệu chứng minh sự vắng mặt của bị can và đưa vào hồ sơ vụ án để chuyển cho Viện kiểm sát.
- Chậm nhất 20 ngày trước khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải họp bàn, thống nhất đánh giá chứng cứ và thủ tục tố tụng. Cuộc họp phải được lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án.
- Trường hợp không đủ điều kiện kết luận điều tra đề nghị truy tố vắng mặt khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hoặc tạm đình chỉ điều tra bị can để giải quyết theo thủ tục chung.
- Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố vắng mặt phải nêu rõ lý do và căn cứ pháp lý cụ thể cho việc áp dụng thủ tục này.
Quy trình truy tố vắng mặt bị can
- Viện kiểm sát tiến hành kiểm tra, xác định các điều kiện vắng mặt. Trường hợp bị can trốn trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã; nếu hết thời hạn truy tố vẫn không có kết quả thì xem xét quyết định truy tố vắng mặt.
- Nếu bị can trở về, đầu thú hoặc bị bắt giữ trong giai đoạn này, hoặc Viện kiểm sát nhận thấy không đủ điều kiện truy tố vắng mặt, vụ án sẽ được chuyển sang giải quyết theo thủ tục chung.
- Bản cáo trạng truy tố vắng mặt phải ghi nhận rõ ràng lý do và căn cứ quyết định truy tố vắng mặt.
Quy trình xét xử vắng mặt bị cáo
- Trường hợp đã có quyết định truy tố vắng mặt: Tòa án kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thì quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử.
- Trường hợp truy tố theo thủ tục chung nhưng bị cáo trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán chủ tọa yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã. Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét xử vẫn không có kết quả, Tòa án xem xét quyết định xét xử vắng mặt.
- Trường hợp bị cáo trốn sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử: Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu truy nã. Sau 15 ngày kể từ ngày ra quyết định truy nã mà không có kết quả, Tòa án quyết định phục hồi vụ án và xét xử vắng mặt nếu đủ điều kiện.
- Trường hợp không đủ điều kiện xét xử vắng mặt: Tòa án quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tạm đình chỉ vụ án.
- Thủ tục tại phiên tòa xét xử vắng mặt: Hội đồng xét xử phải công bố lý do xét xử vắng mặt, lý lịch, phổ biến quyền và nghĩa vụ của bị cáo; kêu gọi bị cáo đầu thú để hưởng khoan hồng. Người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích có quyền phát biểu, trình bày chứng cứ và đọc bản tự bào chữa của bị cáo (nếu có).
Giao nhận, niêm yết và thông báo văn bản tố tụng
- Các văn bản tố tụng như kết luận điều tra, cáo trạng, bản án, quyết định của Tòa án phải được giao, gửi và thông báo theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trong trường hợp không thể giao trực tiếp cho bị can, bị cáo vắng mặt, các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện niêm yết công khai các văn bản này. Đối với vụ án phức tạp hoặc có nhiều đối tượng, cơ quan tố tụng có thể quyết định chỉ niêm yết phần nội dung liên quan trực tiếp đến bị can, bị cáo vắng mặt.
Hiệu lực thi hành và Tổ chức thực hiện
Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện. Trong quá trình triển khai, nếu phát sinh vướng mắc, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm kịp thời phản ánh về các bộ, ngành trung ương để phối hợp giải quyết.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ CÔNG AN - BỘ QUỐC PHÒNG - VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO - TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC | Hà Nội, ngày 01 tháng 7 năm 2025 |
QUY ĐỊNH VỀ PHỐI HỢP GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ VẮNG MẶT BỊ CAN, BỊ CÁO
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15;
Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao liên tịch ban hành quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện trình tự, thủ tục điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 233, khoản 2 và khoản 3 Điều 243, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Thông tư liên tịch này áp dụng đối với:
1. Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây viết tắt là Cơ quan điều tra);
2. Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp (sau đây viết tắt là Viện kiểm sát);
3. Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp (sau đây viết tắt là Tòa án);
4. Người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này;
5. Bị can, bị cáo;
6. Người bào chữa, người đại diện, người thân thích của bị can, bị cáo vắng mặt;
7. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo.
Điều 3. Nguyên tắc thực hiện
1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo.
2. Bảo đảm thận trọng, khách quan, chặt chẽ, không để xảy ra vi phạm, lạm dụng; chỉ kết luận điều tra, quyết định truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo khi thuộc các trường hợp và đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch này.
3. Bảo đảm tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật.
Chương II
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC VÀ VIỆC PHỐI HỢP TRONG ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ VẮNG MẶT BỊ CAN, BỊ CÁO
Điều 4. Trường hợp, điều kiện ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng và xét xử vắng mặt bị can, bị cáo
1. Cơ quan điều tra áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 233, Viện kiểm sát áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 243, Tòa án áp dụng quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự để điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo trong các trường hợp sau:
a) Bị can, bị cáo trốn hoặc không biết bị can, bị cáo ở đâu và việc truy nã không có kết quả.
Bị can, bị cáo trốn là trường hợp bị can, bị cáo cố ý trốn tránh, vắng mặt, cơ quan tiến hành tố tụng không giao được giấy triệu tập cho bị can, bị cáo hoặc đã giao giấy triệu tập nhưng bị can, bị cáo không chấp hành, trình diện theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc che giấu tung tích, nơi cư trú, nơi làm việc, nơi học tập nhằm không chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Không biết bị can, bị cáo ở đâu là trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tiến hành các hoạt động xác minh theo quy định pháp luật nhưng không xác định được bị can, bị cáo ở đâu.
Việc truy nã không có kết quả là trường hợp Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã bị can, bị cáo, áp dụng các biện pháp xác minh, truy bắt bị can, bị cáo nhưng đến khi hết thời hạn điều tra, hết thời hạn truy tố, hết thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc hết thời hạn theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Thông tư liên tịch này mà bị can, bị cáo không đầu thú hoặc không bắt được bị can, bị cáo.
b) Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử là trường hợp có căn cứ xác định bị can, bị cáo đã xuất cảnh nhưng chưa có thông tin nhập cảnh và không xác định được nơi đang sinh sống, làm việc, học tập của bị can, bị cáo ở nước ngoài, không triệu tập, dẫn độ được bị can, bị cáo để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xác định nơi đang sinh sống, làm việc, học tập của bị can, bị cáo ở nước ngoài, đã triệu tập, đã yêu cầu dẫn độ nhưng không thể đưa được bị can, bị cáo trở về Việt Nam để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này khi có đủ các điều kiện sau:
a) Đã thu thập đủ chứng cứ, tài liệu để làm rõ các vấn đề phải chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng hình sự và đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo đã thực hiện tội phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
b) Bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt theo quy định tại các điều 16, 291, 351 và Chương V của Bộ luật Tố tụng hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án phải thông báo về quyền nhờ người bào chữa cho người đại diện hoặc người thân thích của bị can, bị cáo để họ nhờ người bào chữa. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của bị can, bị cáo không nhờ người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 5. Kết luận điều tra đề nghị truy tố vắng mặt bị can
1. Cơ quan điều tra phải tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh để xác định trường hợp và điều kiện ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can theo quy định tại khoản 2 Điều 233 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông tư liên tịch này. Các tài liệu xác định bị can vắng mặt được đưa vào hồ sơ vụ án và chuyển cho Viện kiểm sát để kiểm sát theo quy định.
2. Chậm nhất 20 ngày trước khi kết thúc điều tra vụ án có bị can vắng mặt, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải phối hợp, tổ chức họp thống nhất đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án, nếu thấy có đủ căn cứ, điều kiện để kết thúc điều tra, kết luận điều tra đề nghị truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can theo quy định tại khoản 2 Điều 233 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông tư liên tịch này thì Cơ quan điều tra ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố.
Việc thống nhất đánh giá chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án phải được lập biên bản, đưa vào hồ sơ vụ án.
3. Trường hợp không biết bị can đang ở đâu và việc truy nã không có kết quả theo điểm a khoản 1 Điều 4 của Thông tư liên tịch này mà hết thời hạn điều tra, nhưng không đủ điều kiện ra kết luận điều tra đề nghị truy tố vắng mặt bị can quy định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư liên tịch này, Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can theo quy định tại Điều 229 của Bộ luật Tố tụng hình sự; việc giải quyết vụ án thực hiện theo thủ tục chung.
4. Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can phải có các nội dung quy định tại Điều 233 của Bộ luật Tố tụng hình sự; lý do và căn cứ để kết luận điều tra đề nghị truy tố vắng mặt bị can.
Điều 6. Truy tố vắng mặt bị can
1. Trường hợp Cơ quan điều tra kết luận điều tra đề nghị truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can thì Viện kiểm sát phải tiến hành các hoạt động để xác định trường hợp và điều kiện ban hành bản cáo trạng truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can theo quy định tại khoản 2 Điều 243 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông tư liên tịch này. Các tài liệu xác định bị can vắng mặt được đưa vào hồ sơ vụ án.
2. Trường hợp Cơ quan điều tra kết thúc điều tra theo thủ tục chung nhưng trong giai đoạn truy tố thì bị can trốn hoặc không biết bị can ở đâu, Viện kiểm sát đề nghị Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can. Nếu hết thời hạn truy tố mà việc truy nã không có kết quả thì Viện kiểm sát xem xét, quyết định truy tố vắng mặt bị can nếu có đủ căn cứ, điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 243 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông tư liên tịch này.
3. Trường hợp Cơ quan điều tra kết luận điều tra đề nghị truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can nhưng đến giai đoạn truy tố, bị can trở về, đầu thú hoặc bắt được bị can hoặc trường hợp Viện kiểm sát xác định không đủ căn cứ, điều kiện để quyết định truy tố vắng mặt bị can theo quy định tại khoản 2 Điều 243 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông tư liên tịch này thì Viện kiểm sát giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
4. Bản cáo trạng truy tố trong trường hợp vắng mặt bị can phải có các nội dung quy định tại Điều 243 của Bộ luật Tố tụng hình sự; lý do và căn cứ để truy tố vắng mặt bị can.
Điều 7. Xét xử vắng mặt bị cáo
1. Trường hợp đã có quyết định truy tố vắng mặt bị can, Tòa án phải kiểm tra tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nếu có đủ căn cứ, điều kiện quy định tại Điều 4 của Thông tư liên tịch này thì hết thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án căn cứ quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xem xét, quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo.
Trường hợp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc giai đoạn xét xử, bị can, bị cáo trở về, đầu thú hoặc bắt được bị can, bị cáo thì Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
2. Trường hợp Viện kiểm sát quyết định việc truy tố theo thủ tục chung, nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo. Sau khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà việc truy nã không có kết quả thì Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã phải thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị can, bị cáo nếu có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông tư liên tịch này.
3. Trường hợp Viện kiểm sát quyết định việc truy tố theo thủ tục chung, sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử mà bị cáo trốn thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định truy nã mà việc truy nã không có kết quả thì Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã phải thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định phục hồi vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo nếu đủ căn cứ, điều kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 4 của Thông tư liên tịch này. Trường hợp không đủ căn cứ, điều kiện để xét xử vắng mặt thì Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
4. Trường hợp đã có cáo trạng truy tố vắng mặt bị can, nhưng Tòa án xét thấy không có đủ căn cứ, điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư liên tịch này và có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Tòa án quyết định trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung hoặc Tòa án quyết định tạm đình chỉ vụ án. Sau khi điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án và có đủ căn cứ, điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư liên tịch này thì Tòa án xem xét, quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị cáo.
5. Trình tự, thủ tục tại phiên tòa khi xét xử vắng mặt bị cáo được thực hiện theo quy định tại Chương XXI và Chương XXII của Bộ luật Tố tụng hình sự và các thủ tục sau đây:
a) Hội đồng xét xử công bố lý do xét xử vắng mặt bị cáo, lý lịch; phổ biến quyền và nghĩa vụ của bị cáo vắng mặt; kêu gọi bị cáo đầu thú, có mặt tại phiên tòa để thực hiện quyền tự bào chữa và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ, khoan hồng theo quy định của pháp luật;
b) Người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của bị cáo vắng mặt phát biểu ý kiến, đưa ra tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo; đọc bản tự bào chữa của bị cáo, nếu có.
Điều 8. Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo các lệnh, quyết định, văn bản tố tụng đối với bị can, bị cáo vắng mặt
1. Việc giao, gửi, thông báo kết luận điều tra đề nghị truy tố, cáo trạng, bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện theo quy định tại các điều 137, 138, 141, 142, khoản 4 Điều 232, khoản 2 Điều 240 và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trường hợp không thể giao kết luận điều tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng, bản án, quyết định của Tòa án cho bị can, bị cáo, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng này theo quy định tại Điều 140, khoản 3 Điều 233, khoản 3 Điều 243 và khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo hoặc khi xét thấy cần thiết, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể xem xét, quyết định việc niêm yết phần nội dung trong bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến bị can, bị cáo vắng mặt.
3. Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo các văn bản tố tụng khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Chương III
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 9. Hiệu lực thi hành
Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều 10. Tổ chức thực hiện
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư liên tịch này.
Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch này, nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị phản ánh về Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao để giải quyết./.
| KT. BỘ TRƯỞNG | KT. BỘ TRƯỞNG |
| KT. CHÁNH ÁN | KT. VIỆN TRƯỞNG |
|
|
|
- 1Quyết định 714/QĐ-TTg năm 2024 về Kế hoạch thực hiện Quy định 132-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Quyết định 2494/QĐ-BTC năm 2024 về Kế hoạch thực hiện Quyết định 714/QĐ-TTg về Kế hoạch thực hiện Quy định 132-QĐ/TW kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 3Thông tư liên tịch 01/2025/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BQP hướng dẫn Điều 3 Nghị quyết 164/2024/QH15 thí điểm xử lý vật chứng, tài sản trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một số vụ việc, vụ án hình sự do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ trưởng Bộ Công an - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành
Thông tư liên tịch 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo do Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- Số hiệu: 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC
- Loại văn bản: Thông tư liên tịch
- Ngày ban hành: 01/07/2025
- Nơi ban hành: Bộ Công An, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
- Người ký: Nguyễn Văn Long, Nguyễn Trí Tuệ, Hồ Đức Anh, Võ Minh Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 979 đến số 980
- Ngày hiệu lực: 01/07/2025
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
