|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 744/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 9 - 2025 V/v tranh chấp về ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đinh Thị Diễm Kiều
- Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Võ Minh Thương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 935/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1331/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 2498/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979;
Địa chỉ: 5 Đường số H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Bị đơn: Ông Trần Ngọc M, sinh năm 1976;
Địa chỉ thường trú: 172/1 khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai).
Địa chỉ cư trú: A Đường số H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bà Nguyễn Thị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Trần Ngọc M vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M tự nguyện tiến đến hôn nhân, đã đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57/2001 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) cấp ngày 14 tháng 6 năm 2001. Thời gian đầu, hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không dung hòa được dẫn đến việc thường xuyên cãi vả, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà và ông Trần Ngọc M đã sống ly thân từ năm 2005 đến nay. Bà nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm, chăm sóc nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn với ông Trần Ngọc M để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M có 01 con chung là Trần Ngọc S, sinh ngày 15/3/2000 (chết ngày 05/5/2024).
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Ngọc M mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, do đó không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Trần Ngọc M vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn ông Trần Ngọc M, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Trần Ngọc Minh cư T1 tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Ngọc M được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông M.
[2.2] Về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và giải quyết khiếu nại nếu có:
Ngày 11/8/2025, Tòa án tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do bị đơn ông Trần Ngọc M vắng mặt nên Tòa án đã tống đạt kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để đương sự được biết. Các bên đã biết rõ tất cả và không khiếu nại các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không đề nghị Tòa án thu thập bổ sung chứng cứ, triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác. Đương sự khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia quá trình giải quyết vụ án và cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan nhưng vắng mặt, phải chịu trách nhiệm vì sự vắng mặt của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định.
[3] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57/2001 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) cấp ngày 14 tháng 6 năm 2001. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, hôn nhân của bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Đối với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời khai của bà Nguyễn Thị T thì mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M phát sinh do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Ngọc M không đến tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, mặc dù được tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng của Toà án nhưng ông M cũng không có bất cứ ý kiến nào gửi cho Tòa án về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T. Điều này thể hiện ông Trần Ngọc M không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân giữa ông Trần Ngọc M và bà Nguyễn Thị T. Xét, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình và có nghĩa vụ sống chung với nhau nhưng thực tế bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M đã ly thân từ năm 2005 đến nay. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể xây dựng gia đình hạnh phúc theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn ông Trần Ngọc M là có cơ sở và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M có 01 con chung là Trần Ngọc S, sinh ngày 15/3/2000 (chết ngày 05/5/2024). Ngoài ra bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M không có con chung nào khác nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị T xác định giữa bà và ông Trần Ngọc M không có tài sản chung và nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[4] Án phí sơ thẩm: Án phí hôn nhân sơ thẩm bà Nguyễn Thị T phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
- Căn cứ Khoản 1 Điều 9; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2025;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Trần Ngọc M.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M theo giấy chứng nhận kết hôn số 57/2001 do Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường T, tỉnh Đồng Nai) cấp ngày 14 tháng 6 năm 2001 chấm dứt hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M có 01 con chung là Trần Ngọc S, sinh ngày 15/3/2000 (chết ngày 05/5/2024). Ngoài ra bà Nguyễn Thị T và ông Trần Ngọc M không có con chung nào khác nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đương sự nào yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này.
2. Án phí:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Nguyễn Thị T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số BLTU/24P 0073241 ngày 15/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh). Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí.
3. Quyền và thời hạn kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiền Lương |
5
Quyết định số 744/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số quyết định: 744/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TM
