|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-VĨNH LONG Số: 39/2025/QÐST-HNGĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Vĩnh Long, ngày 25 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
Căn cứ vào các điều 212, 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số: 49/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Bà Trần Thị Bích H, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Số H, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre; sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã H, tỉnh Vĩnh Long.
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Số H, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre; sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã H, tỉnh Vĩnh Long.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Bích H và ông Nguyễn Văn P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre; sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã có tên gọi là xã H, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 24/5/2016 nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông P là hợp pháp. Quá trình chung sống do bất đồng về quan điểm, ông bà đã không chung sống với nhau từ tháng 5/2025 cho đến nay và bỏ mặc nhau, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Cả hai xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ và có yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy, hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, về tài sản chung, nợ chung phù hợp với Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Tòa án công nhận.
[2] Về con chung: bà Trần Thị Bích H và ông Nguyễn Văn P có 02 người con chung là Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 09/01/2017 và Nguyễn Trần Gia P1, sinh ngày 12/9/2019. Ông bà thỏa thuận sau khi vợ chồng ly hôn thì bà H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Ngọc Phương V cho đến khi đủ 18 tuổi, ông P không phải cấp dưỡng cho con chung Nguyễn Ngọc Phương V; ông P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Trần Gia P1 cho đến khi đủ 18 tuổi, bà H không phải cấp dưỡng cho con chung Nguyễn Trần Gia P1. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung Nguyễn Ngọc Phương V là muốn được sống với bà H. Như vậy, sự thỏa thuận này của bà H và ông P phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con;...; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” nên Tòa án công nhận giao con chung Nguyễn Ngọc Phương V cho bà H và giao con chung Nguyễn Trần Gia P1 cho ông P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
[3] Về cấp dưỡng cho con: theo quy định tại khoản 2 Điều 82 và khoản 1 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, Tòa án có giải thích việc cấp dưỡng cho con là quyền và lợi ích của trẻ. Tuy nhiên, bà H không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con chung Nguyễn Ngọc Phương V và ông P không yêu cầu bà H cấp dưỡng cho con chung Nguyễn Trần Gia P1, đây là sự tự nguyện của bà H và ông P nên Tòa án ghi nhận.
[4] Về quyền thăm nom con: theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Do đó, bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung Nguyễn Trần Gia P1 và ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung Nguyễn Ngọc Phương V mà không ai được cản trở.
[5] Về việc cấp dưỡng cho con và thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, Tòa án có thể quyết định việc cấp dưỡng cho con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: bà Trần Thị Bích H và ông Nguyễn Văn P cùng khai ông bà không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Tòa án ghi nhận và không xem xét.
[7] Về lệ phí Toà án: bà Trần Thị Bích H và ông Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình. Do ông bà thỏa thuận mỗi người chịu 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) nên Tòa án ghi nhận và trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Bích H thuận tình ly hôn.
- - Về con chung: ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Bích H có 02 người con chung tên Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 09/01/2017 và Nguyễn Trần Gia P1, sinh ngày 12/9/2019.
Giao con chung Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 09/01/2017 cho bà Trần Thị Bích H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Ghi nhận việc bà Trần Thị Bích H không yêu cầu ông Nguyễn Văn P cấp dưỡng cho con chung Nguyễn Ngọc Phương V.
Ông Nguyễn Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung Nguyễn Ngọc Phương V mà không ai được quyền cản trở.
Giao con chung Nguyễn Trần Gia P1, sinh ngày 12/9/2019 cho ông Nguyễn Văn P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Ghi nhận việc ông Nguyễn Văn P không yêu cầu bà Trần Thị Bích H cấp dưỡng cho con chung Nguyễn Trần Gia P1.
Bà Trần Thị Bích H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung Nguyễn Trần Gia P1 mà không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận việc ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Bích H cùng khai ông bà không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
Về lệ phí Toà án:
Ông Nguyễn Văn P phải chịu 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông P đã nộp là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008381 ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Ông P đã nộp đủ lệ phí.
Bà Trần Thị Bích H phải chịu 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết yêu cầu về hôn nhân và gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí bà H đã nộp là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008382 ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà H đã nộp đủ lệ phí.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN (ĐÃ KÝ) Đỗ Thị Mộng Tuyền |
Quyết định số 39/2025/QÐST-HNGĐ ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-VĨNH LONG về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 39/2025/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
