Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia năm 1982 do Hội đồng Nhà nước ban hành nhằm xác lập các quy định pháp lý về việc bảo vệ, quản lý và sử dụng thống nhất tài liệu lưu trữ quốc gia, phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử, khoa học và thực tiễn của đất nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Pháp lệnh áp dụng đối với mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân Việt Nam trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia. Đồng thời, văn bản cũng điều chỉnh hoạt động của các cơ quan lưu trữ Nhà nước các cấp và các đối tượng trong và ngoài nước có nhu cầu tiếp cận, khai thác tài liệu lưu trữ của Việt Nam.
Định nghĩa và tính chất của tài liệu lưu trữ quốc gia- Tài liệu lưu trữ quốc gia được xác định là những tài liệu có giá trị về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội, khoa học, kỹ thuật, được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và các nhân vật lịch sử qua các thời kỳ của dân tộc Việt Nam.
- Yêu cầu về hình thức: Tài liệu lưu trữ quốc gia phải là bản chính của văn kiện hoặc các dạng vật chất ghi tin khác như giấy, phim, ảnh, băng, đĩa ghi âm. Bản sao chỉ được sử dụng thay thế khi không còn bản chính và phải được chứng thực có giá trị pháp lý tương đương bản chính.
- Tài liệu lưu trữ quốc gia thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước thống nhất quản lý theo nguyên tắc tập trung. Nghiêm cấm mọi cơ quan, tập thể hoặc cá nhân chiếm đoạt tài liệu làm của riêng.
- Nghiêm cấm tuyệt đối các hành vi mua bán, trao đổi, cất giữ, tiêu hủy trái phép tài liệu lưu trữ quốc gia, hoặc sử dụng tài liệu vào các mục đích đi ngược lại với lợi ích của Nhà nước.
- Đối với tài liệu riêng của cá nhân, gia đình, dòng họ hoặc tập thể có giá trị lịch sử, khoa học: Nhà nước thực hiện đăng ký, bảo hộ và hướng dẫn, hỗ trợ về mặt bảo quản. Nhà nước khuyến khích việc ký gửi hoặc hiến tặng các tài liệu này cho cơ quan lưu trữ Nhà nước. Nghiêm cấm chuyển các tài liệu này ra nước ngoài dưới mọi hình thức; trường hợp muốn bán thì chỉ được bán cho cơ quan lưu trữ Nhà nước.
- Tài liệu lưu trữ quốc gia phải được bảo quản tập trung tại các cơ quan lưu trữ Nhà nước. Việc phân cấp quản lý được thực hiện giữa cơ quan lưu trữ Nhà nước trung ương, địa phương và chuyên ngành tùy thuộc vào tính chất, ý nghĩa của tài liệu.
- Đối với tài liệu đặc biệt quý, hiếm hoặc tuyệt mật: Bắt buộc phải lập bản sao để bảo hiểm và áp dụng chế độ bảo quản, sử dụng đặc biệt do Hội đồng Bộ trưởng quy định.
- Trách nhiệm quản lý: Thủ trưởng các ngành từ trung ương đến cơ sở và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, tổ chức quản lý tài liệu lưu trữ trong phạm vi quyền hạn của mình. Các cơ quan, đơn vị phải thực hiện lập hồ sơ công việc và nộp lưu trữ vào kho lưu trữ Nhà nước đúng thời hạn quy định.
- Việc lựa chọn tài liệu để bảo quản hoặc loại ra để tiêu hủy phải thông qua Hội đồng xác định giá trị tài liệu lưu trữ quyết định theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.
- Nghiêm cấm mang tài liệu lưu trữ quốc gia ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền do Hội đồng Bộ trưởng ủy nhiệm cho phép và chỉ được mang bản sao.
- Quyền tiếp cận: Các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang được sử dụng tài liệu phục vụ công tác và nghiên cứu khoa học. Công dân Việt Nam được sử dụng tài liệu cho các nhu cầu chính đáng theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.
- Người nước ngoài muốn nghiên cứu, sử dụng tài liệu lưu trữ quốc gia của Việt Nam phải được sự cho phép trực tiếp từ Hội đồng Bộ trưởng.
- Nguyên tắc sử dụng: Việc sử dụng và công bố tài liệu phải phục vụ đường lối, chính sách và bảo đảm bí mật của Đảng và Nhà nước.
- Cơ quan lưu trữ Nhà nước trung ương thuộc Hội đồng Bộ trưởng: Chịu trách nhiệm quản lý tập trung, thống nhất công tác lưu trữ trên phạm vi cả nước; xây dựng chế độ quản lý, nghiệp vụ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện; quản lý các cơ sở nghiên cứu, đào tạo cán bộ lưu trữ và trực tiếp quản lý tài liệu có ý nghĩa toàn quốc.
- Cơ quan lưu trữ tại các Bộ, Ủy ban Nhà nước và cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng: Quản lý công tác lưu trữ trong nội bộ ngành và các đơn vị trực thuộc dưới sự chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan.
- Cơ quan lưu trữ thuộc Ủy ban nhân dân các cấp: Quản lý công tác và tài liệu lưu trữ tại địa phương.
- Tổ chức và biên chế của các cơ quan lưu trữ Nhà nước do Hội đồng Bộ trưởng quy định cụ thể.
- Khen thưởng: Cơ quan, tập thể, cá nhân có thành tích bảo vệ, phát hiện, hiến tặng tài liệu lưu trữ có giá trị sẽ được Nhà nước khen thưởng theo quy định.
- Xử lý vi phạm: Người có hành vi vi phạm các quy định của Pháp lệnh sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm.
Hiệu lực thi hành: Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia năm 1982 có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 8-LCT/HĐNN7 | Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 1982 |
CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC NGÀY 30 THÁNG 11 NĂM 1982 BẢO VỆ TÀI LIỆU LƯU TRỮ QUỐC GIA
Tài liệu lưu trữ quốc gia là di sản của dân tộc, có giá trị đặc biệt đối với việc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Để bảo vệ an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ quốc gia;
Để đề cao trách nhiệm và kỷ luật của các cơ quan Đảng và Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân dối với việc bảo vệ, quản lý và sử dụng tài liệu lưu trữ quốc gia.
Căn cứ vào Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định việc bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia.
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Tài liệu lưu trữ quốc gia là tài liệu có giá trị về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, giáo dục, xã hội, khoa học, kỹ thuật, được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan Đảng và Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và các nhân vật, trải qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, phục vụ việc nghiên cứu lịch sử, khoa học và công tác thực tiễn.
Tài liệu lưu trữ quốc gia phải là bản chính của văn kiện hoặc tài liệu khác ghi trên giấy, phim, ảnh, băng, đĩa ghi âm, hoặc bằng các phương pháp ghi tin khác; trong trường hợp không còn bản chính mới được thay thế bằng bản sao có giá trị như bản chính.
Tài liệu lưu trữ quốc gia thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý theo nguyên tắc tập trung, thống nhất; không một cơ quan, tập thể hoặc cá nhân nào được chiếm làm của riêng.
Nghiêm cấm việc mua bán, trao đổi, cất giữ, tiêu huỷ trái phép tài liệu lưu trữ quốc gia hoặc sử dụng vào các mục đích trái với lợi ích của Nhà nước.
Tài liệu riêng của các cá nhân, gia đình, giòng họ và tập thể có giá trị như nói ở
Nhà nước khuyến khích việc ký gửi, tặng tài liệu đó vào các cơ quan lưu trữ Nhà nước, cấm chuyển ra nước ngoài dưới mọi hình thức; trong trường hợp muốn bán thì chỉ được bán cho cơ quan lưu trữ Nhà nước.
Các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân Việt Nam có nghĩa vụ bảo vệ các tài liệu lưu trữ quốc gia và chấp hành nghiêm chỉnh mọi chế độ, quy định của Nhà nước về các tài liệu đó.
VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ QUỐC GIA
Tài liệu lưu trữ quốc gia phải được bảo quản trong các cơ quan lưu trữ Nhà nước.
Căn cứ vào tính chất, ý nghĩa của tài liệu lưu trữ quốc gia, Nhà nước phân cấp cho cơ quan lưu trữ Nhà nước trung ương, địa phương hoặc chuyên ngành tập trung bảo quản.
Đối với những tài liệu đặc biệt quý, hiếm, tuyệt mật, phải lập bản sao để bảo hiểm và phải được bảo quản, sử dụng theo chế độ đặc biệt do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Các cơ quan lưu trữ Nhà nước, trong phạm vi được phân cấp quản lý, phải thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo đảm sự toàn vẹn của tài liệu lưu trữ quốc gia.
Thủ trưởng các ngành từ trung ương đến cơ sở, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, trong phạm vi quyền hạn của mình, có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức quản lý tài liệu lưu trữ quốc gia.
Các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, trong quá trình hoạt động, phải tổ chức công tác lập hồ sơ và lưu trữ hồ sơ trong cơ quan, đơn vị; đến thời hạn nộp lưu thì phải nộp vào các cơ quan lưu trữ trữ Nhà nước theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
Việc lựa chọn những tài liệu lưu trữ quốc gia để bảo quản và loại ra những tài liệu hết giá trị để tiêu huỷ phải do Hội đồng xác định giá trị tài liệu lưu trữ quyết định, theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
Cấm mang tài liệu lưu trữ quốc gia ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp có giấy phép của cơ quan được Hội đồng bộ trưởng uỷ nhiệm và chỉ được mang bản sao.
Các cơ quan của Đảng và Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân được sử dụng tài liệu lưu trữ quốc gia để phục vụ các nhu cầu công tác và nghiên cứu khoa học.
Công dân Việt Nam được sử dụng tài liệu lưu trữ quốc gia vào các nhu cầu chính đáng theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
Việc sử dụng và công bố tài liệu lưu trữ quốc gia phải phục vụ đường lối, chính sách và bảo đảm bí mật của Đảng và Nhà nước.
Chế độ sử dụng và công bố tài liệu lưu trữ quốc gia do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Người nước ngoài muốn nghiên cứu và sử dụng tài liệu lưu trữ quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được Hội đồng bộ trưởng cho phép.
CÁC CƠ QUAN LƯU TRỮ NHÀ NƯỚC
Các cơ quan lưu trữ Nhà nước trung ương thuộc Hội đồng bộ trưởng có trách nhiệm quản lý tập trung, thống nhất công tác lưu trữ; xây dựng các chế độ quản lý, chế độ nghiệp vụ lưu trữ; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chế độ đó trong cả nước; quản lý các cơ quan nghiên cứu khoa học lưu trữ, các cơ sở đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lưu trữ; trực tiếp quản lý các tài liệu lưu trữ có ý nghĩa toàn quốc.
Cơ quan lưu trữ ở các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, dưới sự chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan, quản lý công tác và tài liệu lưu trữ trong ngành và các đơn vị trực thuộc.
Cơ quan lưu trữ thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp, quản lý công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ trong địa phương.
Tổ chức, biên chế của các cơ quan lưu trữ Nhà nước do Hội đồng bộ trưởng quy định.
VIỆC KHEN THƯỞNG VÀ XỬ PHẠT
Cơ quan, tập thể và cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia, phát hiện, nộp, tặng cho cơ quan lưu trữ trữ Nhà nước những tài liệu có giá trị thì được khen thưởng theo quy định của Nhà nước.
Người nào vi phạm những điều quy định trong Pháp lệnh này thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy tố trước pháp luật.
ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ.
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh này.
|
| Trường Chinh (Đã ký) |
- 1Thông tư 04/2006/TT-BNV hướng dẫn xác định cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nôp lưu tài liệu vào lưu trữ lịch sử các cấp do Bộ nội vụ ban hành
- 2Quyết định 37/2006/QĐ-BTC ban hành Bảng giá dịch vụ chỉnh lý tài liệu lưu trữ nền giấy tiếng Việt do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 3Chỉ thị 05/2007/CT-TTg về tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Nghị định 142-CP năm 1963 ban hành điều lệ về công tác, công văn, giấy tờ và công tác lưu trữ do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 5Pháp lệnh lưu trữ quốc gia năm 2001
- 6Nghị định 111/2004/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia
- 1Thông tư 04/2006/TT-BNV hướng dẫn xác định cơ quan, tổ chức thuộc nguồn nôp lưu tài liệu vào lưu trữ lịch sử các cấp do Bộ nội vụ ban hành
- 2Quyết định 37/2006/QĐ-BTC ban hành Bảng giá dịch vụ chỉnh lý tài liệu lưu trữ nền giấy tiếng Việt do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 3Chỉ thị 05/2007/CT-TTg về tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Nghị định 142-CP năm 1963 ban hành điều lệ về công tác, công văn, giấy tờ và công tác lưu trữ do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 5Hiến pháp năm 1980
- 6Nghị định 111/2004/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia
Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia năm 1982 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- Số hiệu: 8-LCT/HĐNN7
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 30/11/1982
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Trường Chinh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 24
- Ngày hiệu lực: 11/12/1982
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
