Nghị định 150-CP được ban hành năm 1964 bởi Hội đồng Chính phủ, quy định về việc cấp giấy chứng minh nhằm xác thực căn cước cho công dân, phục vụ cho nhu cầu đi lại và thực hiện các giao dịch hàng ngày.
Phạm vi và đối tượng áp dụng:
Quy định áp dụng đối với mọi công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà từ tròn 18 tuổi trở lên. Tuy nhiên, các trường hợp không được cấp giấy chứng minh bao gồm: người bị mất trí, người đang bị giam giữ và người đang bị quản chế. Đối với quân nhân tại ngũ thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vũ trang, chế độ giấy chứng minh riêng sẽ do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quy định.
Cơ quan cấp phát và thủ tục quản lý giấy chứng minh:
- Bộ Công an chịu trách nhiệm tổ chức cấp phát giấy chứng minh theo mẫu thống nhất về cả nội dung và kích thước. Người được cấp giấy chứng minh có trách nhiệm trả tiền in giấy tờ.
- Khi có sự thay đổi về họ tên, ngày tháng năm sinh, hoặc tình trạng hôn nhân, công dân phải làm thủ tục khai báo hộ tịch trước khi xin cấp lại giấy chứng minh mới.
- Trường hợp thay đổi chỗ ở, nghề nghiệp hoặc cơ quan công tác, công dân phải mang giấy chứng minh đến cơ quan công an hoặc Ủy ban hành chính sở tại để ghi nhận các thông tin thay đổi trực tiếp vào giấy chứng minh.
Quy định xử lý khi mất, hỏng hoặc nhặt được giấy chứng minh:
- Khi giấy chứng minh bị hư nát, công dân phải làm thủ tục xin cấp giấy chứng minh mới.
- Nếu bị mất giấy chứng minh, công dân phải báo ngay cho cơ quan Công an hoặc Ủy ban hành chính nơi gần nhất và nơi mình đăng ký thường trú.
- Người nhặt được giấy chứng minh của người khác có trách nhiệm đem nộp lại cho cơ quan Công an hoặc Ủy ban hành chính nơi gần nhất.
Các trường hợp bắt buộc phải nộp lại giấy chứng minh:
- Người được tuyển vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vũ trang hoặc người không phải công nhân, viên chức Nhà nước được phép ra nước ngoài phải nộp lại giấy chứng minh cho cơ quan Công an hoặc Ủy ban hành chính nơi cư trú trước khi đi.
- Công nhân, viên chức Nhà nước được cử đi công tác hoặc học tập ở nước ngoài phải nộp lại giấy chứng minh cho cơ quan, xí nghiệp nơi mình công tác trước khi xuất cảnh.
- Người được phép thôi quốc tịch Việt Nam, người bị tước quốc tịch, người bị giam giữ hoặc bị áp dụng biện pháp quản chế phải nộp lại giấy chứng minh cho cơ quan Công an hoặc Ủy ban hành chính nơi cư trú.
- Thân nhân của người đã chết hoặc người bị mất trí có nghĩa vụ đem nộp lại giấy chứng minh của người đó cho cơ quan Công an hoặc Ủy ban hành chính sở tại.
Các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý:
- Nghiêm cấm hành vi khai gian căn cước để được cấp giấy chứng minh.
- Cấm mọi hành vi giả mạo, tẩy xóa, sửa chữa hoặc tự ý ghi chép các thông tin vào giấy chứng minh.
- Cấm việc mua bán, cho thuê, cho mượn giấy chứng minh dưới mọi hình thức.
- Nghiêm cấm việc sử dụng giấy chứng minh của người khác hoặc tiếp tục sử dụng giấy chứng minh khi đã mất quyền sử dụng. Người vi phạm các quy định này sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hiện hành.
Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp:
- Bộ Công an chịu trách nhiệm hướng dẫn, quy định chi tiết và tổ chức thực hiện việc cấp phát giấy chứng minh. Trong thời gian công dân chưa được cấp giấy chứng minh mới, các loại giấy thông hành và giấy chứng nhận khác vẫn tiếp tục được sử dụng hợp pháp trong việc đi lại và giao dịch.
- Nghị định này chính thức có hiệu lực và thay thế cho Nghị định số 577/TTg ngày 27 tháng 11 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp giấy chứng minh.
- Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm hướng dẫn và quy định chi tiết thi hành nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 150-CP | Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 1964 |
CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 150-CP NGÀY 2 THÁNG 10 NĂM 1964 VỀ VIỆC CẤP GIẤY CHỨNG MINH
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Để phục vụ lợi ích của nhân dân và góp phần giữ gìn trật tự trị an xã hội.
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Công an,
Căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong Hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 9 tháng 9 năm 1964.
NGHỊ ĐỊNH:
Những người bị mất trí, những người đang bị giam giữ, đang bị quản chế đều không được cấp giấy chứng minh.
Quân nhân tại ngũ (trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vũ trang) có giấy chứng minh riêng do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quy định.
Điều 2: Giấy chứng minh do Bộ Công an tổ chức cấp phát.
Nội dung và kích thước giấy chứng minh làm theo mẫu thống nhất kèm theo nghị định này.
Người được cấp giấy chứng minh phải trả tiền in giấy tờ.
Điều 3: Người được cấp giấy chứng minh:
- Khi thay đổi họ, tên, thay đổi ngày, tháng, năm sinh hoặc khi thay đổi tình trạng hôn nhân, phải xin cấp giấy chứng minh mới sau khi đã làm thủ tục về khai báo hộ tịch.
- Khi thay đổi chỗ ở, thay đổi nghề nghiệp, thay đổi cơ quan công tác phải đem giấy chứng minh đến cơ quan công an hoặc Uỷ ban hành chính sở tại để ghi những sự thay đổi ấy vào giấy chứng minh.
Điều 4: Khi giấy chứng minh bị hư nát phải xin cấp giấy chứng minh mới.
Khi mất giấy chứng minh phải báo ngay cho cơ quan Công an hoặc Uỷ ban hành chính nơi gần nhất và nơi mình thường trú.
Người bắt được giấy chứng minh của người khác phải đem nộp cho cơ quan Công an hoặc Uỷ ban hành chính nơi gần nhất.
Công nhân, viên chức Nhà nước được cử ra nước ngoài công tác, học tập, trước khi đi phải nộp giấy chứng minh cho cơ quan, xí nghiệp nơi mình công tác.
Người được phép ra quốc tịch Việt Nam hoặc bị tước quốc tịch, người bị giam giữ, bị án quản chế phải nộp lại giấy chứng minh cho cơ quan Công an hoặc Uỷ ban hành chính nơi mình ở.
Thân nhân của người bị mất trí, người chết, phải đem nộp giấy chứng minh của người đó cho cơ quan Công an hoặc Uỷ ban hành chính nơi mình ở.
-Việc khai gian căn cước để xin cấp giấy chứng minh.
-Việc giả mạo, tẩy xoá, sửa chữa hoặc tự ý ghi chép vào giấy chứng minh.
-Việc mua bán, cho thuê, cho mượn giấy chứng minh.
-Việc dùng giấy chứng minh của người khác hoặc dùng giấy chứng minh mà mình không còn được quyền dùng.
Người nào làm những điều sai trái như trên sẽ bị xử lý theo pháp luật hiện hành.
Điều 7: Bộ Công an sẽ quy định cụ thể việc tổ chức cấp phát giấy chứng minh.
Những người chưa được cấp giấy chứng minh vẫn dùng giấy thông hành và những giấy chứng nhận khác trong việc đi lại, giao dịch.
| Phạm Hùng (Đã ký) |
- 1Quyết định 215-TTg năm 1972 về việc cấp giấy chứng nhận căn cước do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Nghị định 577-TTg năm 1957 về đặt giấy chứng minh và quy định thể lệ cấp phát giấy chứng minh do Thủ Tướng ban hành.
- 3Thông tư 205-TTg năm 1958 về việc cấp giấy chứng minh cho cán bộ trong năm 1958-1959 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Quyết Định 143-CP năm 1976 Về việc cấp giấy căn cước cho nhân dân trong cả nước do Hội Đồng Chính Phủ ban hành
- 1Thông tư 184-P3-1965 hướng dẫn thi hành Nghị định 150-CP-1964 về việc cấp giấy chứng minh do Bộ Công an ban hành
- 2Quyết định 215-TTg năm 1972 về việc cấp giấy chứng nhận căn cước do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Nghị định 577-TTg năm 1957 về đặt giấy chứng minh và quy định thể lệ cấp phát giấy chứng minh do Thủ Tướng ban hành.
- 4Thông tư 205-TTg năm 1958 về việc cấp giấy chứng minh cho cán bộ trong năm 1958-1959 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nghị định 150-CP năm 1964 về việc cấp giấy chứng minh do Hội đồng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 150-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 02/10/1964
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Phạm Hùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 35
- Ngày hiệu lực: 17/10/1964
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
