|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2025/HS-ST Ngày 19 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phùng Thị Thương, ông Trịnh Tiến Khoa.
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Lê Thuý Ngà - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà:
Bà Lò Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 19/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang (cơ sở 2), xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2025/TLST-HS ngày 26/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HS ngày 05/12/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chảo Vàng P (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 25/8/1988 tại xã Y, tỉnh Tuyên Quang; nơi thường trú: thôn S, xã Y, tỉnh Tuyên Quang; nơi ở hiện tại: thôn S, xã Y, tỉnh Tuyên Quang; Căn cước công dân: 002088010604, do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ C cấp ngày 12/04/2024; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chảo Mìn S, sinh năm 1952 và bà Tẩn Thị M, sinh năm 1956; bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; Vợ: bà Vàng Thị K, sinh năm 1989, con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/8/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh T; có mặt.
- Trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo Chảo Vàng P: Ông Ấu Đức N, sinh năm 1984 - Trợ giúp viên pháp lý, TT trợ giúp pháp lý tỉnh Tuyên Quang; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+) Bà Vàng Thị K, sinh năm 1989, địa chỉ: thôn S, xã Y, tỉnh Tuyên Quang; có mặt.
+) Anh Chảo Tờ T, sinh ngày 01/7/2007 địa chỉ: thôn S, xã Y, tỉnh Tuyên Quang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 7/2025, Chảo Vàng P, sinh năm: 1988, ĐKTT: thôn S, xã Y, tỉnh Tuyên Quang, sử dụng tài khoản Zalo Triệu P1 truy cập vào mạng xã hội Zalo thì có một tài khoản (P1 không nhớ tên tài khoản) gửi lời mời kết bạn và giới thiệu P1 vào một nhóm Zalo tên là xổ số miền B. P1 thấy trong nhóm Zalo này thường xuyên đăng tải và quảng cáo kết quả xổ số. Khoảng hai ngày sau, một người sử dụng tài khoản Zalo tên A S1 kết bạn với tài khoản Zalo của P1 thì P1 đồng ý. Một tuần sau, S1 gọi điện qua ứng dụng Z hỏi P1 về việc đổi tiền Trung Quốc (nhận dân tệ), P1 bảo với S1 cứ đến phiên chợ ở M thì sẽ có người đổi rồi tắt máy. Một tuần sau (Páo không nhớ ngày cụ thể), S1 tiếp tục gọi điện qua ứng dụng Zalo nói chuyện với P1, S1 hỏi thăm P1 đang làm việc ở đâu, P1 cho biết đang làm việc tại X, S1 hỏi tiếp: “nghe họ nói ở bên đây đưa người Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam dễ lắm, em đi xem có đi được không?”, nghe vậy, P1 cho S1 biết họ hay đăng lên mạng xã hội Tiktok, thấy ở tỉnh Cao Bằng dễ đi, sao lại không đi, thì S1 cho biết, S1 ở Cao Bằng, tài xế của S1 quen đường ở bên Xin C và bảo P1 đi xem bến đấy đường nào cũng đi được. Đồng thời, S1 hứa hẹn với P1 đón người từ khu vực biên giới về xã Đ và đưa người lên xe thì S1 sẽ trả tiền công cho P1 số tiền 500 Nhân dân tệ/01 người, P1 đồng ý. Sau đó, S1 kết bạn Wechat với P1 để tiện liên hệ. Ngay sau đó, S1 gửi một bức ảnh chụp qua vệ tinh thể hiện ở thôn M, xã S và bảo P1 đi xem khu vực như ở trong ảnh, P1 đồng ý.
Khoảng 06 giờ, ngày 16/8/2025, P1 một mình điều khiển xe mô tô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu xanh, biển kiểm soát: 23M1-150.65 của gia đình đi từ nhà ra quốc lộ Đ, đến xã Đ rồi đi xuống sông N thuộc thôn K, xã S và tiếp tục đi lên khu vực biên giới như trong ảnh mà S1 gửi trước đó, là khu vực cột mốc biên giới 440 (Việt Nam - Trung Quốc) thuộc thôn K, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Tại đây, P1 chụp ảnh cột mốc và gửi vị trí cho S1 qua Wechat thì S1 bảo P1 để Sùng gửi ảnh cho tài xế xem có đi được không. Sau đó, P1 điều khiển xe đi về. Khoảng 01 tiếng sau, khi P1 về đến nhà, S1 tiếp tục gọi điện qua ứng dụng W thông báo cho P1 biết tài xế của S1 không đi được như vị trí ở trong ảnh rồi tắt máy. Đến sáng ngày hôm sau, S1 tiếp tục gọi điện thông báo cho P1 biết sẽ cho người vượt biên trái phép qua khu vực mốc 438 nhưng do không quen đường và chưa đi xem nên P1 không đồng ý. Sau đó, S1 và P1 thống nhất sẽ đưa 05 người nhập cảnh trái phép đến đầu cầu cứng nối hai bờ sông N thuộc thôn K, xã S, P sẽ đón người tại đây và đưa đến xã Đ giao người cho S1, sau khi nhận người thì S1 sẽ trả cho P1 theo thoả thuận 500 Nhân dân tệ /1 người.
2
Khoảng 07 giờ, ngày 20/8/2025, trong khi P1 cùng gia đình đang hộ nhà ông bà ngoại của P1 ở xã L, tỉnh Tuyên Quang bẻ ngô, S1 tiếp tục gọi điện thông báo cho P1 biết sẽ có người Trung Quốc nhập cảnh trái phép qua khu vực mốc biên giới 438 Việt Nam - Trung Quốc thuộc thôn K, xã S, tỉnh Tuyên Quang vào hôm nay, đồng thời bảo P1 để ý điện thoại để S1 gọi đi đón người Trung Quốc. Thời gian sau đó, S1 thường xuyên thông tin cho P1 về thời gian người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, S1 gọi điện thông báo cho P1 về thời gian đón người là 20 giờ cùng ngày. Khoảng 30 phút sau, P1 cùng Chảo Tờ T, sinh ngày 01/7/2007 (con trai cả của P1, trú cùng địa chỉ với Pl) mỗi người điều khiển một chiếc xe mô tô (P1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha, màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát: 23M1-150.65; T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát: 23M1-198.88) đưa vợ và các con của P1 gồm: Vàng Thị K, sinh năm: 1989, Chảo Tờ P2, sinh năm: 2011, Chảo Thị D, sinh năm: 2013, đi từ nhà bà N1 đến ngã ba xã P (một đường đi Phố B, một đường đi Đ). Sau đó, P1 và T điều khiển xe mô tô đến địa điểm đã hẹn với S1 để đón người. Trước khi đi, P1 chỉ nói với T “đi cùng bố đón người”, T đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, P1 và T đến khu vực cầu cứng nối 02 đầu sông N thuộc thôn K, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Tại đây, S1 tiếp tục gọi điện bảo P1 chờ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, S1 gọi điện thông báo cho P1 biết chỉ có 04 người trèo được qua hàng rào thép gai từ Trung Quốc sang Việt Nam nhưng S1 vẫn trả đủ cho P1 số tiền 2500 CYN (hai nghìn năm trăm nhân dân tệ, tính đủ số tiền 05 người). Ngay sau đó, S1 bảo P1 đi theo hướng ngược lại biên giới, bật đèn flash điện thoại làm tín hiệu, gặp người ở đâu thì đón ở đó. Sau đó P1 và T tiếp tục điều khiển xe mô tô đi khoảng hơn 01 km, do trời mưa, đường trơn nên P1, T để xe máy ở đường rồi tiếp tục đi bộ được khoảng 300 mét thì gặp 05 người đi bộ theo chiều ngược lại bật đèn flash điện thoại, P1 hỏi người đàn ông đi trước bằng tiếng dân tộc Mông “Anh đưa người à?”, người đó trả lời “Vâng”, rồi quay đi theo hướng ngược lại. Sau đó, P1 bảo T đi trước, còn P1 sử dụng điện thoại quay 04 người Trung Quốc và gửi và nhắn tin cho S1 “anh chuẩn bị tiền” nhưng S1 không trả lời. Páo và T đưa 04 người Trung Quốc đến vị trí để xe mô tô.
Sau đó, Chảo Vàng P điều khiển xe mô tô chở hai người mang quốc tịch Trung Quốc là: (1) Ngô Quan N2, sinh năm: 2007, dân tộc Choang, trú tại: số D, đường S, thôn B, trấn T, huyện P, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, (2) Bành Tiên V, sinh năm: 2005, dân tộc Cờ Lao, trú tại: tổ B, thôn H, trấn Đ, huyện T, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc; Chảo Tờ T điều khiển xe chở hai người gồm: (1) Chu Diễm H, sinh năm: 2000, dân tộc Hán, trú tại: tổ A, thôn T, đường S, quận A, thành phố C, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc; (2) Viên X, sinh năm: 2000, dân tộc Hán, trú tại: đường số A, trấn Đ, huyện T, thành phố Đ, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc đi từ khu vực biên giới Trung Quốc – Việt Nam đi hướng về cầu bê tông
3
thuộc thôn K, xã S, tỉnh Tuyên Quang được khoảng 20 mét do đường trơn nên P và T đổi xe cho nhau. Khi đi đến đoạn đường cách đầu cầu bê tông thuộc thôn K, xã S khoảng 100 mét thì bị tổ công tác Đồn biên phòng X1 phát hiện, yêu cầu dừng xe kiểm tra và lập biên bản.
Ngày 22/8/2025, X1, Ban chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh T tiến hành cho 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam gồm: Chu Diễm H, Viên X, Ngô Quan N2 và Bành Tiên V xác định vị trí các đối tượng trèo qua hàng rào thép gai biên giới để nhập cảnh trái phép vào Việt Nam; vị trí các đối tượng đợi người đàn ông dẫn đường; vị trí các đối tượng gặp người đàn ông dẫn đường và vị trí các đối tượng gặp Chảo Vàng P và Chảo Tờ T. Kết quả các đối tượng đều xác định vị trí khu vực các đối tượng nhập cảnh trái phép vào Việt Nam là khu vực mốc biên giới 438 Việt Nam - Trung Quốc thuộc thôn K, xã S, tỉnh Tuyên Quang. Cùng ngày, X1, Ban chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh T tiến hành cho bị cáo Chảo Vàng P và Chảo Tờ T xác định vị trí P và Chảo Tờ T đợi, đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Kết quả, Chảo Vàng P, Chảo Tờ T đều xác định được vị trí nêu trên.
Trước cơ quan điều tra, bị cáo Chảo Vàng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung vụ án (bút lục số 185 đến bút lục số 204); biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số 01 đến 03); Lời khai người làm chứng (bút lục số 205 đến bút lục số 219, 231 đến 257); Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ và bản ảnh xác định hiện trường (bút lục số 147 đến 184) cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 198/CT-VKSTQ-P2 ngày 24/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Chảo Vàng P về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo đã khai và thừa nhận toàn bộ diễn biến hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo rất ăn năn, hối cải mong được hưởng sự khoan hồng pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vàng Thị K trình bày: 02 chiếc xe máy có được là do vợ chồng bà và bị cáo mua bằng tiền tích góp, mục đích để phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày của gia đình. Đề nghị HĐXX xem xét, trả lại 02 chiếc xe máy và các giấy tờ, vật dụng liên quan tới 02 chiếc xe máy để bà và con ở nhà còn đi làm kiếm tiền và chở các con đi học.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Chảo Tờ T đề nghị Hội đồng xét xử trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo, mặt sau màu xanh dương, đây là tài sản T mua bằng tiền tự kiếm, không liên quan đến hành vi phạm tội.
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa đã phân tích, đánh giá nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chảo Vàng P về tội: “Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
- - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 348, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự đề nghị: Xử phạt bị cáo Chảo Vàng P từ 02 năm 06 tù đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 21/8/2025.
- - Hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định. Do vậy, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, số khung: RLHJA390HY846074; số máy JA39E0826229; dung tích xi lanh: 109cm³, biển kiểm soát 23M1-150.65, màu sơn xanh đen bạc, không có gương bên phải, yếm xe bị vỡ, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong xe, xe đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chìa khoá của xe mô tô, biển kiểm soát 23M1-150.65; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 009630, mang tên Nguyễn Văn B, biển số đăng ký: 23M1-150.65, cấp ngày 24/01/2019; 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme, mặt sau màu trắng sữa, không kiểm tra hoạt động bên trong điện thoại, điện thoại đã qua sử dụng;
Trả lại cho bà V1 thị Khách 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, số khung: RLHJA3922MY291423; số máy JA39E2416743; dung tích xi lanh: 109 cm³, biển kiểm soát 23M1-198.88, màu sơn trắng đen bạc, không có gương trái, yên xe bị rách, yếm trước và sau bị vỡ, xe cũ, không kiểm tra hoạt động bên trong của xe, xe đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chìa khoá của xe mô tô, biển kiểm soát 23M1-198.88; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 23001399, mang tên Vàng Thị K, biển số đăng ký: 23M1-198.88, cấp ngày 17/01/2022;
Trả lại cho anh Chảo Tờ T 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo, mặt sau màu xanh dương, vỡ màn hình, mặt sau bong tróc sơn, không kiểm tra hoạt động bên trong của điện thoại, đã qua sử dụng.
5
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo ông Ấu Đức N trình bày: Nhất trí về tội danh, điều luật áp dụng và án phí của đại diện Viện kiểm sát. Về phần hình phạt, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Về vật chứng: Đề nghị HĐXX xem xét trả lại cho bị cáo 02 chiếc xe máy, là tài sản có được từ tiền lao động, tích cóp của gia đình.
Bị cáo nhất trí với ý kiến, quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, trợ giúp viên pháp lý, bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật ở mức hình phạt thấp nhất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vàng Thị K đề nghị HĐXX xem xét trả lại cho gia đình 02 chiếc xe máy và xem xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp để bị cáo còn về kiếm tiền nuôi gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Chảo Tờ T nhất trí về phần xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo Chảo Vàng P: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về gia đình, chăm sóc bố mẹ già, kiếm tiền nuôi con và hoà nhập với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và định khung hình phạt đối với bị cáo Chảo Vàng P: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo P thừa nhận hành vi của bị cáo giống như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố: Khoảng 20 giờ ngày 20/8/2025, bị cáo Chảo Vàng P, sinh năm: 1988, ĐKTT: thôn S, xã Y, tỉnh Tuyên Quang rủ Chảo
6
Tờ T, sinh ngày 01/7/2007 (con trai cả của P, cùng trú địa chỉ trên) cùng đi đón và đưa 04 công dân Trung Quốc gồm: (1) Chu Diễm H, sinh năm: 2000, trú tại: tổ A, thôn T, đường S, quận A, thành phố C, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc, (2) Viên X, sinh năm: 2000, trú tại: đường số A, trấn Đ, huyện T, thành phố Đ, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc, (3) Ngô Quan N2, sinh năm: 2007, trú tại: số D, đường S, thôn B, trấn T, huyện P, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc và (4) Bành Tiên V, sinh năm: 2005, trú tại: tổ B, thôn H, trấn Đ, huyện T, tỉnh Quý Châu, Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép từ khu vực gần mốc biên giới 438 Việt Nam - Trung Quốc thuộc thôn K, xã S, tỉnh Tuyên Quang đến trung tâm xã Đ, tỉnh Tuyên Quang. Tuy nhiên, P chỉ nói với T là cùng P đi đón người nhưng không nói đón ai và đón ở đâu, T cũng không biết đây là 04 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép. Khi P và T đang chở 04 người Trung Quốc đi từ khu vực gần mốc biên giới 438 Việt Nam - Trung Quốc thuộc thôn K, xã S, tỉnh Tuyên Quang xuống cách cầu bê tông thuộc thôn K, xã S khoảng 100 mét thì bị tổ công tác Đồn biên phòng X1, Ban chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh T phát hiện, yêu cầu dừng xe kiểm tra và lập biên bản.
[3] Từ nhận định tại đoạn [2], HĐXX đã có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Chảo Vàng P phạm tội "Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép" theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo H1 thấy rằng: Hành vi của bị cáo P gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính Nhà nước về lĩnh vực xuất, nhập cảnh được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nên cần phải xử lý bị cáo Chảo Vàng P mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. HĐXX áp dụng Điều 38 về tù có thời hạn và Điều 50 Bộ luật Hình sự về quyết định hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cho bị cáo rèn luyện, tu dưỡng bản thân, biết tôn trọng pháp luật, trở thành người có ích cho xã hội đồng thời để đấu tranh phòng ngừa tội phạm này tại địa phương.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải. Bên cạnh đó, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện - kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có 03 con trong đó 02 con còn nhỏ, con lớn sinh năm 2007 và vợ bị cáo cùng không có việc làm ổn định, bố mẹ bị cáo ở với bị cáo hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Do vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm
7
nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 348 Bộ luật Hình “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên bản thân bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, bố mẹ già yếu, gia đình thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
[9] Đối với chiếc xe máy do P sử dụng chở 02 người Trung Quốc được mô tả là xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, số khung: RLHJA390HY846074; số máy JA39E0826229; dung tích xilanh: 109cm³, biển kiểm soát 23M1-150.65, màu sơn xanh đen bạc, không có gương bên phải, yếm xe bị vỡ, không kiểm tra hoạt động bên trong của xe, xe đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chìa khoá của xe mô tô, biển kiểm soát 23M1-150.65; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 009630, mang tên Nguyễn Văn B, biển số đăng ký: 23M1-150.65, cấp ngày 24/01/2019. HĐXX xét thấy đây là phương tiện thực hiện tội phạm cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[10] Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme, mặt sau màu trắng sữa, không kiểm tra hoạt động bên trong của điện thoại, đã qua sử dụng. Đây là phương tiện P dùng để liên lạc với S1 đưa người Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam trái phép nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[11] Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, số khung: RLHJA3922MY291423; số máy JA39E2416743; biển kiểm soát 23M1-198.88, màu sơn trắng đen bạc, không có gương trái, yên xe bị rách, yếm trước và sau bị vỡ, xe cũ, không kiểm tra hoạt động bên trong của xe đã qua sử dụng; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 23001399, mang tên Vàng Thị K, biển số đăng ký: 23M1-198.88, cấp ngày 17/01/2022; 01 (một) chiếc chìa khoá của xe mô tô, biển kiểm soát 23M1-198.88, đây là chiếc xe máy và giấy tờ liên quan, T dùng để chở hai người Trung Quốc. Do T không biết việc bị cáo P nhờ đi đón người là người Trung Quốc và đây cũng là tài sản chung của gia đình nên cần trả lại cho bà Vàng Thị K để phục vụ sinh hoạt, đi lại của gia đình.
[12] Đối với chiếc diện thoại của Chảo Tờ T không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho Chảo Tờ T 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo, mặt sau màu xanh dương, vỡ màn hình, mặt sau bong tróc sơn, không kiểm tra hoạt động bên trong của điện thoại, đã qua sử dụng.
8
[13] Về số tiền thu lời bất chính: Mặc dù giữa bị cáo P và người Trung Quốc thỏa thuận tiền công chở là 500 Nhân dân tệ/01 người, nhưng do hành vi phạm tội của bị cáo bị cơ quan chức năng phát hiện và bắt quả tang nên bị cáo P đến địa điểm như đã thỏa thuận, do đó bị cáo P chưa nhận được tiền công. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập truy thu số tiền bị cáo phạm tội mà có.
[14] Đối với Chảo Tờ T: Mặc dù T trực tiếp sử dụng xe mô tô đi cùng bố đẻ của mình là Chảo Vàng P để đón 04 người Trung Quốc tại đoạn đường thuộc thôn K, xã S về xã Đ. Tuy nhiên, trước, trong thời gian đón người thì T không biết những người mình đón là người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép, mục đích Páo đón 04 người này để làm gì thì T không biết, T chỉ thực hiện theo lời của Chảo Vàng P. Đồng thời, T không được hưởng lợi gì từ việc này. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét về hình sự đối với Chảo Tờ T trong vụ án này là có căn cứ.
[15] Đối với 04 người Trung Quốc gồm Chu Diễm H, V, Ngô Quan N2 và Bành Tiên V: Do không có việc làm nên các đối tượng đã vào các trang mạng xã hội để tìm kiếm việc làm. Sau đó, các đối tượng được các tài khoản mạng xã hội khác kết bạn làm quen và giới thiệu việc làm với mức thu nhập cao nên đã tin tưởng và được nhóm những người này đưa đến khu vực mốc Biên giới 438 (Việt Nam - Trung Quốc) thuộc thôn K, xã S, tỉnh Tuyên Quang để nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Hành vi của Chu Diễm H, Viên X, Ngô Quan N2 và Bành Tiên V đã vi phạm điểm a khoản 3, điều 18, Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Sau khi được Đồn Biên phòng X1, Ban chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh T trao trả cho Đồn Biên phòng Biên giới Đ, Trung Quốc, các đối tượng này đã bị Công an huyện P, C, V, Trung Quốc xử lý theo quy định về hành vi xuất cảnh trái phép. Do đó HĐXX không đề cập, xem xét.
[16] Đối với người đàn ông tên A S1: bị cáo Chảo Vàng P khai nhận chỉ quen biết với người đàn ông liên hệ với mình để tổ chức cho 04 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép tên là A S1 thông qua mạng xã hội zalo và wechat. P không biết mặt, không biết tên tuổi địa chỉ, nhân thân của A S1. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để truy tìm đối với người này; HĐXX không đề cập, xem xét.
[17] Đối với người đàn ông dẫn đường giao 04 người Trung Quốc cho Chảo Vàng P: quá trình điều tra xác định Chảo Vàng P, Chảo Tờ T và 04 người đàn ông Trung Quốc đều không quen biết, không xác định được nhân thân, không nhận dạng được người đàn ông này. Do vậy, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để truy tìm đối với người này. HĐXX không đề cập, xem xét.
9
[18] Đối với Vàng Thị K, Chảo Tờ P2 và Chảo Thị D: Quá trình điều tra, xác định trước, trong khi Chảo Vàng P sử dụng xe mô tô đi đón 04 người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép thì K, P2 và D đều không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với ba người này là phù hợp.
[19] Ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang có căn cứ nên được chấp nhận.
[20] Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo về hình phạt không phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.
[21] Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[22] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chảo Vàng P phạm tội "Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép".
- Hình phạt: Xử phạt bị cáo Chảo Vàng P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/8/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Chảo Vàng P.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, số khung: RLHJA390HY846074; số máy JA39E0826229; dung tích xi lanh: 109cm³, biển kiểm soát 23M1-150.65, màu sơn xanh đen bạc, không có gương bên phải, yếm xe bị vỡ, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong xe, xe đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chìa khoá của xe mô tô, biển kiểm soát 23M1-150.65; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 009630, mang tên Nguyễn Văn B, biển số đăng ký: 23M1-150.65, cấp ngày 24/01/2019; 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme, mặt sau màu trắng sữa, không kiểm tra hoạt động bên trong điện thoại, điện thoại đã qua sử dụng;
10
- - Trả lại cho bà V1 thị Khách 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, số khung: RLHJA3922MY291423; số máy JA39E2416743; dung tích xi lanh: 109 cm³, biển kiểm soát 23M1-198.88, màu sơn trắng đen bạc, không có gương trái, yên xe bị rách, yếm trước và sau bị vỡ, xe cũ, không kiểm tra hoạt động bên trong của xe, xe đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc chìa khoá của xe mô tô, biển kiểm soát 23M1-198.88; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 23001399, mang tên Vàng Thị K, biển số đăng ký: 23M1-198.88, cấp ngày 17/01/2022;
- - Trả lại cho anh Chảo Tờ T 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Oppo, mặt sau màu xanh dương, vỡ màn hình, mặt sau bong tróc sơn, không kiểm tra hoạt động bên trong của điện thoại, đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/12/2025 giữa Cơ quan Công an tỉnh T với Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang (cơ sở 2)).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Chảo Vàng P.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân |
11
Bản án số 97/2025/HS-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về tổ chức cho người khác nhập cảnh việt nam trái phép
- Số bản án: 97/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chảo Vàng Páo
