|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2025/HSPT Ngày 28-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
----------
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Phạm Duy Lam
Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 114/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Võ Đình T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HSST ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai.
*Các bị cáo có kháng cáo:
- Võ Đình T, sinh ngày 04/11/1974 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Khu phố N, phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay là Khu phố N, phường T, tỉnh Đắk Lắk); Số CCCD: 054074009324, cấp ngày 05/12/2021; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Võ Đình C và bà Lê Thị Kim T1; có vợ là Võ Thị T2 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Đoàn Thị Kim T3, sinh ngày 30/7/1987 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Khu phố T, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay là Khu phố T, phường T, tỉnh Đắk Lắk); Số CCCD: 054187005986, cấp ngày 09/5/2021 ;Nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đoàn Văn L (đã chết) và bà Đặng Thị H; có chồng là Phan V (đã ly hôn năm 2022) và 01 con chung sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Ngọc Thùy T4, sinh ngày 10/9/1978 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Số D N, khu phố N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay là số D N, khu phố N, phường T, tỉnh Đắk Lắk); Số CCCD: 054178010362, cấp ngày 09/5/2021; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Ngọc H1 và bà Cao Thị Tùng L1; có chồng là Võ Vĩnh T5 (đã ly hôn năm 2007) và 01 con chung sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Lê Đào N, sinh ngày 08/7/1994 tại tỉnh Phú Yên; Nơi thường trú: Thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (Nay là thôn B, xã X, tỉnh Đắk Lắk); Nơi ở hiện tại: số G N, khu phố N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Nay là số G N, khu phố N, phường T, tỉnh Đắk Lắk); Số CCCD: 054094006536, cấp ngày 20/12/2024; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn H2 (đã chết) và bà Đào Thị Đ; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Đình T sở hữu xe ô tô tải biển số 78C- 047.56, nhãn hiệu CNHTC, số loại CKGT/WD, xe được Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới G - Chi nhánh Công ty cổ phần K cấp Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (gọi tắt là Giấy chứng nhận kiểm định) số EB 1382699 ngày 20/11/2024, xe có kích thước bao là (11900x2500x3540) mm, kích thước lòng thùng xe là (9220x2360x2150)mm.
Ngày 13/12/2024, T cơi nới, nâng chiều cao của thùng xe thêm 500mm và nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ nhằm đối phó tránh bị lực lượng chức năng phát hiện việc cơi nới thùng xe.
Ngày 17/12/2024, T mang Giấy chứng nhận kiểm định số EB 1382699 nói trên (tài liệu thật) đến Trung tâm ảnh màu “Ngọc Quy”, địa chỉ số G đường N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên gặp Nguyễn Ngọc Thùy T4 (Nhân viên của Trung tâm ảnh màu “Ngọc Quy”, phụ trách việc tiếp khách, ép plastic tài liệu và thu tiền) để yêu cầu ép plastic tài liệu. Sau khi T4 ép plastic xong, T cầm Giấy chứng nhận kiểm định số EB 1382699 (tài liệu thật) sang vị trí của Đoàn Thị Kim T3 (Nhân viên của Trung tâm ảnh màu “Ngọc Quy”, phụ trách scan ảnh, chỉnh sửa hình ảnh và in màu ảnh), T chỉ vào số “3540” ở dòng kích thước bao, số “2150” ở dòng kích thước lòng thùng xe của Giấy chứng nhận kiểm định và yêu cầu T3 chỉnh sửa các con số trên rồi in màu tạo ra tài liệu giả thì T3 đồng ý. T đưa Giấy chứng nhận kiểm định số EB 1382699 cho T3 lấy hình ảnh, thông tin để làm giả. Lúc này, T3 đưa Giấy chứng nhận kiểm định số EB 1382699 vào máy Scan nhãn hiệu “CANON LIDE 300” để scan lấy hình ảnh của giấy. Sau khi scan xong, hình ảnh của Giấy chứng nhận kiểm định được hiển thị trên máy tính. T chỉ vào màn hình máy tính và yêu cầu T3 chỉnh sửa số “3540” thành “4000”, chỉnh sửa số “2150” thành “2650” thì T3 sử dụng phần mềm Photoshop để sửa các số trên. Sau khi đã chỉnh sửa xong, T đồng ý và ngồi chờ Thư in màu.
Khoảng 07 giờ 57 phút cùng ngày, T3 dùng máy in phun màu nhãn hiệu “EPSON L805” in ra 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định (tài liệu giả) trên khổ giấy A4 và đưa sang cho T4. T4 dùng kéo cắt bỏ phần giấy trắng bị thừa thì T thấy Giấy chứng nhận kiểm định (tài liệu giả) in ra bị lệch, xéo so với khuôn giấy nên T không đồng ý và cầm Giấy chứng nhận kiểm định (tài liệu giả) đến chỗ T3 để yêu cầu T3 in lại. Sau đó, T3 liên tiếp in ra thêm 03 (ba) bản Giấy chứng nhận kiểm định (tài liệu giả) đưa cho T xem nhưng T vẫn không đồng ý. Lúc 08 giờ 33 phút cùng ngày, T cầm Giấy chứng nhận kiểm định (tài liệu thật) ra về và hẹn chiều cùng ngày sẽ quay lại. T4 thấy vậy lấy Giấy chứng nhận kiểm định (tài liệu giả, bản in lần thứ tư) cất trên bàn rồi tiếp tục làm việc.
Do trưa cùng ngày T có việc nên đã nhờ vợ là bà Võ Thị T2 (sinh năm 1973) đến Trung tâm ảnh màu “Ngọc Quy” để lấy tài liệu cho T. Khoảng 13 giờ 29 phút ngày 17/12/2024, bà T2 đến Trung tâm ảnh màu “Ngọc Q” gặp Nguyễn Ngọc Thùy T4. Do trước đó Đoàn Thị Kim T3 đã in nhiều lần nhưng giấy đều bị lệch nên T3 đã nhờ Lê Đào N (Nhân viên của Trung tâm ảnh màu “Ngọc Quy”, phụ trách việc sơn mài ảnh và phụ giúp các nhân viên khác) căn chỉnh giấy, in màu thì N đồng ý. Lúc này, T3 mở sẵn file ảnh của Giấy chứng nhận kiểm định trên máy tính cho N xem, N nhìn thấy file ảnh trên có các thông tin của Giấy chứng nhận kiểm định như có hình con dấu màu đỏ của cơ quan chức năng, nền ảnh file là màu vàng nhạt, có các thông số kỹ thuật của xe ô tô tải và biết việc in màu sẽ tạo ra tài liệu giả nhưng vẫn đồng ý thực hiện. Nguyên căn chỉnh giấy và trực tiếp bấm lệnh in màu tạo 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định (tài liệu giả) rồi chuyển giấy cho T4. T4 biết rõ Giấy chứng nhận kiểm định do N in và đưa cho mình là tài liệu giả vì trước đó T3 đã in nhiều lần nhưng do giấy bị xéo nên T không đồng ý, quá trình Nguyên in Giấy chứng nhận kiểm định (tài liệu giả) thì T4 nhìn thấy, sau đó T4 dùng kéo cắt bỏ phần giấy bị thừa, ép plastic giấy rồi đưa giấy cho bà T2. Bà T2 nhận giấy và dùng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02s gọi video qua mạng xã hội Zalo cho Võ Đình T để thông báo. Thông qua cuộc gọi video, bà T2 dùng điện thoại quay video hai mặt Giấy chứng nhận kiểm định (tài liệu giả) cho T xem. Sau khi xem xong, T đồng ý nhận tài liệu thì bà T2 trả cho T4 số tiền 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) và mang tài liệu trên về đưa lại cho Võ Đình T.
Ngày 19/12/2024, T một mình điều khiển xe ô tô tải biển số 78C-047.56 mang theo cả giấy chứng nhận kiểm định thật và giả đến huyện I, tỉnh Gia Lai để vận chuyển mía. Khoảng 17 giờ ngày 19/12/2024, T điều khiển xe ô tô tải chở mía đến khu vực K đường T đoạn thuộc thôn K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện I dừng xe kiểm tra. Khi Tổ công tác đề nghị T xuất trình các loại giấy tờ để kiểm tra thì T đã xuất trình 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số EB 1382699 (tài liệu giả). Tổ công tác nghi ngờ về tài liệu trên thì T thừa nhận đây là tài liệu giả, đồng thời T xuất trình thêm 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số EB 1382699 (tài liệu thật). Tổ công tác tiến hành lập biên bản vi phạm đối với T, tạm giữ 01 (một) xe ô tô tải biển số 78C- 047.56 (trên xe có chở mía), tạm giữ và niêm phong 02 (hai) Giấy chứng nhận kiểm định và chuyển hồ sơ, tang vật đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I, tỉnh Gia Lai để xác minh.
Ngày 10/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I, tỉnh Gia Lai đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 31/QĐ-ĐTTH, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh G giám định đối với 02 (hai) Giấy chứng nhận kiểm định của Võ Đình T là thật hay giả.
Ngày 21/01/2025, Phòng K1 Công an tỉnh G ban hành Kết luận giám định số 134/KL-KTHS, kết luận:
- 01 (một) “GIẤY CHỨNG NHẬN KIỂM ĐỊNH AN TOÀN KỸ THUẬT VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ” số: EB 1382699, đề ngày 20/11/2024; biển đăng ký: 78C-047.56; loại phương tiện: ô tô tải (có mui); nhãn hiệu: CNHTC; kích thước bao: 11900 x 2500 x 3540; kích thước lòng thùng xe: 9220 x 2360 x 2150 (Ký hiệu A1) là thật.
- 01 (một) “GIẤY CHỨNG NHẬN KIỂM ĐỊNH AN TOÀN KỸ THUẬT VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ” số: EB 1382699, đề ngày 20/11/2024; biển đăng ký: 78C- 047.56; loại phương tiện: ô tô tải (có mui); nhãn hiệu: CNHTC; kích thước bao: 11900 x 2500 x 4000; kích thước lòng thùng xe: 9220 x 2360 x 2650 (Ký hiệu A2) là giả.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 07/2025/HSST ngày 08-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai đã quyết định:
- Tuyên bố Tuyên bố bị cáo Võ Đình T phạm các tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Các bị cáo Đoàn Thị Kim T3, Nguyễn Ngọc Thùy T4 và Lê Đào N phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:
- * Đối với bị cáo Võ Đình T: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Võ Đình T 10 (mười) tháng tù về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức;
- - Xử phạt bị cáo Võ Đình T 10 (mười) tháng tù về tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức;
- - Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Võ Đình T phải chấp hành 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- * Đối với các bị cáo Đoàn Thị Kim T3, Nguyễn Ngọc Thùy T4 và Lê Đào N: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Kim T3 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy T4 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- - Xử phạt bị cáo Lê Đào N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên hình phạt bổ sung đối với bị cáo T, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo luật định.
3. Kháng cáo của các bị cáo
- - Ngày 09/8/2025 các bị cáo Võ Đình T, Đoàn Thị Kim T3, Nguyễn Ngọc Thùy T4 và Lê Đào N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- - Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo sửa phần hình phạt của bản án theo hướng giảm hình phạt tù cho bị cáo Võ Đình T mỗi tội danh xử phạt 06 tháng tù, các bị cáo còn lại giữ nguyên mức hình phạt tù và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của của các bị cáo: Các bị cáo đều nhận thức và biết được “Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ” có đóng dấu đỏ và chữ ký của người có thẩm quyền phải do cơ quan có thẩm quyền cấp. Hành vi tự ý scan, chỉnh sửa các thông tin, chữ số trên giấy chứng nhận kiểm định này và in màu tạo ra Giấy chứng nhận kiểm định giả là vi phạm pháp luật. Bị cáo T đã sử dụng giấy tờ giả để đối phó với cơ quan có thẩm quyền nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Võ Đình T về các tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Các bị cáo Đoàn Thị Kim T3, Nguyễn Ngọc Thùy T4 và Lê Đào N về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[2] Về kháng cáo của các bị cáo:
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do sự thiếu hiểu biết và nhận thức pháp luật kém, thay vì thực hiện cải tạo xe và kiểm định theo quy định bị cáo T lại nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận kiểm định nhằm qua mặt cảnh sát giao thông khi bị kiểm tra, đến khi bị kiểm tra, bị nghi ngờ về độ chính xác của giấy tờ thì bị cáo lại thành khẩn thừa nhận đã làm giả và xuất trình giấy tờ thật.
Các bị cáo T3, T4, N đều là nhân viên của Trung tâm ảnh màu, biết các thủ thuật chỉnh sửa ảnh và giấy tờ, do thiếu hiểu biết pháp luật chỉ mong muốn phục vụ khách hàng không nghĩ đến hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên khi được T yêu cầu làm giấy giả đã đồng ý. Các bị cáo không được hưởng lợi gì từ hành vi trái pháp luật này của T. Mỗi bị cáo thực hiện một công đoạn trong việc tạo ra tài liệu giả như T3 scan tài liệu đưa lên phần mềm photoshop chỉnh sửa các con số, N căn chỉnh giấy, bấm lệnh in, T4 cắt bỏ phần giấy thừa và ép P.
Bị cáo T có vai trò chính trong hành vi Làm giả giấy tờ, tài liệu và Sử dụng tài liệu giả, thực hiện 02 hành vi phạm tội nên việc để bị cáo cải tạo tại địa phương là có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an. Cần thiết buộc bị cáo chấp hành án tại cơ sở giam giữ để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có nộp thêm đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn do bão lũ, bị cáo là lao động chính trong gia đình vợ không có khả năng lao động, bố mẹ già yếu đều bị bệnh, con còn đang đi học nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 cho bị cáo. Do đó, chấp nhận kháng cáo giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Tại hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo T3, T4, N đều có đơn xác nhận của UBND xã về hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo T3 là mẹ đơn thân hiện là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già và con chưa thành niên; bị cáo T4 là mẹ đơn thân, là lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ già và con đang đi học; bị cáo N là lao động chính trong gia đình khi bố đã chết, mẹ đau bệnh, em gái đang học nghề nhưng chưa được Tòa cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 cho các bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo T4 nộp thêm đơn xác nhận thiệt hại do lũ lụt, các bị cáo khác khai nhận gia đình đều bị thiệt hại nặng do đợt lũ lụt từ ngày 18-23/11 xảy ra trên diện rộng tại địa bàn tỉnh Phú Yên (cũ). Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh.
Các bị cáo T3, T4, N phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng, các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho các bị cáo T3, T4, N được hưởng án treo, xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện tính khoan hồng và nhân đạo của pháp luật. Do đó, chấp nhận kháng cáo giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HSST ngày 08-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Gia Lai về phần hình phạt.
-
* Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Võ Đình T 08 (tám) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”
- - Xử phạt bị cáo Võ Đình T 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
- - Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo Võ Đình T phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
-
* Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- - Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Kim T3 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (28/11/2025).
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Thùy T4 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (28/11/2025).
- - Xử phạt bị cáo Lê Đào N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (28/11/2025).
Giao các bị cáo Đoàn Thị Kim T3, Nguyễn Ngọc Thùy T4 cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Đăk Lăk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân T, tỉnh Đăk Lăk giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lê Đào N cho Ủy ban nhân dân xã X, tỉnh Đăk Lăk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã X, tỉnh Đăk Lăk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật Thi hành án Hình sự.
-
* Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Nguyễn Tiến Sỹ |
Bản án số 97/2025/HSPT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 97/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa án
