Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/11/2025

V/v tranh chấp ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Bạn;
  2. Bà Nguyễn Thị Xuân Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Võ Khánh Trân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bạch Thu Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 312/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Ngọc T, sinh năm: 1997; Địa chỉ thường trú: B, phường N, tỉnh Khánh Hòa. Nơi ở hiện nay: Hẻm E, C, N, phường T, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị đơn: Ông Nguyễn M, sinh năm: 1996; Địa chỉ thường trú: B, xã P, thành phố N (nay là phường N), tỉnh Khánh Hòa. Nơi ở hiện nay: Hẻm A, số I đường L, phường N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và ông Nguyễn M tự nguyện kết hôn năm 2019, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố N (nay thuộc phường N), tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45, ngày 08/4/2019. Trong quá trình chung sống, nguyên đơn và ông M phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và đã sống ly thân khoảng hơn 02 năm nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn M.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc Khánh Q, sinh ngày 01/11/2020. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cháu Nguyễn Ngọc Khánh Q cho nguyên đơn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn M cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Về việc kết hôn và tình trạng hôn nhân giữa bị đơn và bà T đúng như bà T trình bày. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên bị đơn đồng ý ly hôn với bà Bùi Thị Ngọc T.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Khánh Q, sinh ngày 01/11/2020. Bị đơn đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Vì công việc không ổn định, bị đơn là lao động tự do và đang ở nhà thuê nên không có khả năng cấp dưỡng theo yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn đồng ý cấp dưỡng nhưng sẽ cấp dưỡng tùy theo khả năng, không đồng ý mức 3.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa phát biểu quan điểm:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Về nội dung: Xét thấy nguyên đơn và bị đơn đã thống nhất về việc ly hôn và nuôi con; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận sự thuận tình ly hôn, và thỏa thuận giao con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh Q, sinh ngày 01/11/2020 cho nguyên đơn nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị chấp nhận mức cấp dưỡng hàng tháng là 3.000.000 đồng. Tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Ngọc T và ông Nguyễn M tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố N (nay thuộc phường N, tỉnh Khánh Hòa) theo giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 08 tháng 4 năm 2019. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị Ngọc T và ông Nguyễn M là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không hạnh phúc do không hòa hợp, có nhiều mâu thuẫn và hiện nay nguyên đơn khẳng định không còn tình cảm với bị đơn nên xin ly hôn. Như vậy, mục đích hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và được bị đơn đồng ý, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận thuận thuận tình ly hôn.

[2] Về con chung: Con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh Q, sinh ngày 01/11/2020 hiện được nguyên đơn chăm sóc ổn định và bị đơn đồng ý giao con chung cho nguyên đơn nên ghi nhận sự thỏa thuận, tiếp tục giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung, do các đương sự đều không cung cấp được mức thu thập của bị đơn nên Hội đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận mức cấp dưỡng hàng tháng bằng mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/06/2024 của Chính phủ là phù hợp.

[3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Từ những phân tích trên có căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Khánh Hòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về “ly hôn”. Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về “cấp dưỡng”

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 56, 81, 82, 83 và 118 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 3 Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/06/2024 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang;
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Bùi Thị Ngọc T và ông Nguyễn M.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh Q, sinh ngày 01/11/2020 cho bà Bùi Thị Ngọc T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn M phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.340.000 đồng (Hai triệu, ba trăm bốn mươi nghìn đồng) đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc nghĩa vụ cấp dưỡng thuộc trường hợp chấm dứt theo Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp chăm sóc nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung

3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí:

  • - Bà Bùi Thị Ngọc T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về “ly hôn” nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002347 ngày 15/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà Bùi Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí.
  • - Ông Nguyễn M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về “cấp dưỡng”.

5. Quy định chung:

  • - Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  • - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 1 – Khánh Hòa;
  • - Đương sự;
  • - THADS tỉnh Khánh Hòa (phòng THADS KV 1 – Khánh Hòa);
  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - UBND phường Nam Nha Trang - KH;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn và ông Nguyễn M tự nguyện kết hôn năm 2019, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Đồng, thành phố Nha Trang (nay thuộc phường Nam Nha Trang), tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45, ngày 08/4/2019. Trong quá trình chung sống, nguyên đơn và ông Mạnh phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và đã sống ly thân khoảng hơn 02 năm nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc Khánh Q, sinh ngày 01/11/2020. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cháu Nguyễn Ngọc Khánh Q cho nguyên đơn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng: Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Mạnh cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. - Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger