TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2025/DS-ST Ngày: 30-9-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 -CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thới Phần.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Ngọc Anh.
- Bà Đỗ Thị Giờ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2025/TLST-DS ngày 24 tháng 03 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 139/2025/QÐST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1). Địa chỉ: số H L, phường L, quận Đ, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng B - Chức danh: Trưởng phòng xử lý nợ Phản ứng nhanh Khách hàng cá nhân miền B - Khối thu hồi và xử lý nợ - Ngân hàng TMCP V. Người được ủy quyền lại: Ông Vương Lê Vĩnh N - Trưởng bộ phận xử lý nợ; Ông Đặng Minh T - Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ: V1, tầng A, số E - E T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ (nay là phường C, thành phố Cần Thơ) (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh D1, sinh năm: 1973. Địa chỉ: ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Hậu Giang - nay là ấp B, xã X, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V trình bày:
Ông Nguyễn Minh D1 vay vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1) theo các Hợp đồng tín dụng cụ thể như sau: Hợp đồng cho vay số LN2407153206454 ký ngày 06/09/2024; Số tiền cho vay: 446.200.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm bốn mươi sáu triệu, hai trăm nghìn đồng); Thời hạn cho vay: 96 tháng (Bằng chữ: Chín mươi sáu tháng), tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay; Mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán tiền mua chiếc xe ô tô hiệu HYUNDAI, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT sản xuất mới 100%; Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 7,7%/năm (lãi suất được theo năm với một năm là 365 ngày); Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là 01 Xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI, Accent, Biển số đăng ký: 95A-122.19 có số khung RLUAD41BBRN111737, số máy: G4LCPU985190, thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Minh D1 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số ký ngày 11/09/2024. Chi tiết theo Hợp đồng thể chấp xe ôtô số LN2407153206454 ký ngày 06/09/2024 tại V1. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Minh D1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V1 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng. V1 đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện về mặt thời gian để thanh toán nợ, tuy nhiên ông Nguyễn Minh D1 vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.
Dư nợ (nợ gốc, nợ lãi, phí phạt hợp đồng) các khoản vay, tạm tính đến ngày 30/9/2025 của ông Nguyễn Minh D1 tại V1 tổng cộng: 447.700.014 đồng (bốn
trăm bốn mươi bảy triệu bảy trăm nghìn không trăm mười bốn đồng), trong đó: Nợ gốc: 432.256.000 đồng; lãi trong hạn: 2.878.867 đồng; lãi quá hạn: 42.565.147 đồng.
Nay, Ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần V đề nghị Tòa án giải quyết các các nội dung sau:
Yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Minh D1 phải thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ đối với V1, trả toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Tạm tính đến ngày ạm tính đến ngày 30/9/2025 của ông Nguyễn Minh D1 tại V1 tổng cộng: 447.700.014 đồng (bốn trăm bốn mươi bảy triệu bảy trăm nghìn không trăm mười bốn đồng), trong đó: Nợ gốc: 432.256.000 đồng; lãi trong hạn: 2.878.867 đồng; lãi quá hạn: 42.565.147 đồng.
Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng cho đến ngày thực tế ông Nguyễn Minh D1 thanh toán hết nợ cho V1.
Trường hợp bị đơn ông Nguyễn Minh D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án áp dụng các biện pháp cần thiết để kê biên, xử lý các tài sản thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Minh D1 để thu hồi nợ cho V1 là: 01 Xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, Accent, Biển số đăng ký: 95A-122.19 có số khung: RLUAD41BBRN111737, số máy: G4LCPU985190, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Nguyễn Minh D1 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số ký ngày 11/09/2024. Chi tiết theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2407153206454 ký ngày 06/09/2024 tại V1. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp đều thuộc tài sản thế chấp.
Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ, ông Nguyễn Minh D1 vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng đến khi các khoản nợ được tất toán. Ông Nguyễn Minh D1 phải chịu án phí và các chi phí liên quan.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Minh D1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được lời trình bày của ông D1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Cần Thơ trình bày quan điểm như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Minh D1 vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, 228 xét xử vắng mặt đối với Ngân hàng và ông D1.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Nguyễn Minh D1 có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền là 447.700.014 đồng (bốn trăm bốn mươi bảy triệu bảy trăm nghìn không trăm mười bốn đồng), trong đó: Nợ gốc: 432.256.000 đồng; lãi trong hạn: 2.878.867 đồng; lãi quá hạn: 42.565.147 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông D1 phải tiếp tục trả lãi cho ngân hàng theo mức lãi quy định trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trong trường hợp ông D1 không trả nợ cho ngân hàng hoặc trả nợ không đầy đủ thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Minh D1 trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn ông Nguyễn Minh D1 có nơi cư trú tại ấp B, xã X, thành phố Cần Thơ. Căn cứ theo quy định tại Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Cần Thơ.
[2]. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Minh D1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt Ngân hàng và ông D1 nhưng vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cở sở xác định: Giữa Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Minh D1 có ký kết Hợp đồng cho vay số LN2407153206454 ký ngày 06/09/2024. Căn cứ hợp đồng ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Minh D1 với số tiền vốn là 446.200.000 đồng. Sau khi nhận nợ thì ông D1 không thực hiện nghĩa vụ đóng lãi cho ngân hàng, đến nay ông D1 không thanh toán nợ cho ngân hàng nên khoản vay này đã quá hạn. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì ông D1 còn nợ Ngân hàng TMCP V số tiền vốn là 432.256.000 đồng. Do ông D1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là phù hợp với quy định pháp luật.
[4]. Đối với yêu cầu tính lãi của Ngân hàng TMCP V, xét thấy: Hợp đồng cho vay số LN2407153206454 ký ngày 06/09/2024 thỏa thuận lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân: 7.7%/năm; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ông D1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu ông D1 phải trả lãi theo hợp đồng đã thỏa thuận là phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[5]. Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và pháp luật khác có liên quan. Ông D1 đã vay tiền của Ngân hàng thì phải có nghĩa vụ trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Việc ông D1 chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng TMCP V2 (V1) khởi kiện yêu cầu ông D1 trả tổng số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng là 477.700.014 là có căn cứ chấp nhận.
[6]. Từ đó, có cơ sở buộc ông D1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V2 số tiền vay còn nợ tổng cộng 447.700.014 đồng (bốn trăm bốn mươi bảy triệu bảy trăm nghìn không trăm mười bốn đồng), trong đó: Nợ gốc: 432.256.000 đồng; lãi trong hạn: 2.878.867 đồng; lãi quá hạn: 42.565.147 đồng.
[2.5]. Xét hợp đồng thế chấp tài sản: Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng nên bên vay là ông D1 có ký kết hợp đồng thế chấp 01 Xe ô tô nhân hiệu HYUNDAI, Accent, Biển số đăng ký: 95A-122.19 có số khung RLUAD41BBRN111737, số máy: G4LCPU985190, thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Minh D1 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số ký ngày 11/09/2024.
Hợp đồng thế chấp tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, nhằm để đảm bảo khả năng trả nợ của ông D1 cho Ngân hàng TMCP V. Các bên cam kết thế chấp tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp và toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ hoặc có liên quan đến Tài sản thế chấp mà bên thế chấp được hưởng/có thể được hưởng. Hợp đồng thế chấp trên do chủ thể luật định ký kết xác lập, tài sản thế chấp đúng chủ sở hữu, có giấy tờ đăng ký xe hợp pháp. Tại thời điểm ký kết đăng ký giao dịch bảo đảm các chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có đăng ký giao dịch bảo đảm tại các cơ quan có thẩm quyền nên Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2407153206454 ký ngày 06/09/2024 tại V1 có hiệu lực.
Như vậy, trong trường hợp ông D1 không thanh toán hết nợ thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp tài sản đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.000.000 đồng + 4% trên tổng số tiền phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ vượt quá 400.000.000 đồng được tính cụ thể như sau: 20.000.000 đồng + (77.700.014 đồng x 4%) = 23.108.000 đồng. Ngân hàng TMCP V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 7.630.000 đồng theo lai thu số 0010558 phiếu lập ngày 24/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng 2024.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V (V1) đối với ông Nguyễn Minh D1.
- Buộc ông Nguyễn Minh D1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền vay còn nợ tổng cộng 447.700.014 đồng (bốn trăm bốn mươi bảy triệu bảy trăm nghìn không trăm mười bốn đồng), trong đó: Nợ gốc: 432.256.000 đồng (bốn trăm ba mươi hai triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn đồng); lãi trong hạn: 2.878.867 đồng (hai triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn tám trăm sáu mươi bảy đồng); lãi quá hạn: 42.565.147 đồng (bốn mươi hai triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm bốn mươi bảy đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trong trường hợp ông Nguyễn Minh D1 không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần V2 có quyền yêu cầu xử lý tài sản mà ông D1 đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp 01 Xe ô tô nhân hiệu HYUNDAI, Accent, Biển số đăng ký: 95A-122.19 có số khung RLUAD41BBRN111737, số máy: G4LCPU985190, thuộc quyền sở hữu sử dụng của ông Nguyễn Minh D1 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số ký ngày 11/09/2024 và tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Minh D1 phải chịu là 23.108.000 đồng. Ngân hàng TMCP V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 7.623.000 đồng (bảy triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn đồng) theo lai thu số 0010558 phiếu lập
ngày 24/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 - Cần Thơ).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Thới Phần |
Bản án số 97/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 97/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng V khởi kiện ông D1 yêu cầu trả số tiền vay còn nợ
