Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 95/2025/HS-PT

Ngày 22 - 10 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.

Các Thẩm phán: Ông Chu Tuấn Vương;

Ông Hoàng Hữu Tăng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 115/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Tạ Thị T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Tạ Thị T; sinh ngày 19/5/1967; nơi cư trú: Thôn B, xã Á, tỉnh Hưng Yên (trước đây là xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình); giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 10/10; nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Là Đảng viên Đ1 đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số 01-QĐ/UBKTĐU ngày 14/7/2025 của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã Á; con ông Tạ Văn B và con bà Chu Thị Y (đều đã chết); có chồng là ông Trần Duy H, có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa)

Trong vụ án này còn có bị hại và những người làm chứng, không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Tạ Thị T làm giúp việc cho gia đình ông Nguyễn Hải Đ từ tháng 3/2025 (ông Đ sống cùng vợ là bà Lê Thị L, bà L bị ốm không đi lại được). Trong quá trình làm giúp việc lợi dụng việc cất giữ tài sản của ông bà và những lúc ông Đ không có ở nhà, bị cáo T đã 06 lần trộm cắp tiền của vợ chồng ông Đ với tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Cụ thể như sau:

  1. Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 18/3/2025, thấy ông Đ sang nhà hàng xóm chơi, bà L ốm nằm ở giường không đi lại được, bị cáo T vào phòng kho cạnh phòng khách, mở tủ gỗ lấy chiếc cặp da màu đen, mở ra bên trong có một chiếc ví da màu đỏ, trong ví có nhiều tiền, bị cáo T trộm cắp 5.000.000 đồng, gồm 10 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng rồi giấu vào trong túi quần bị cáo đang mặc, sau đó cất số tiền còn lại vào trong tủ như ban đầu. Số tiền này bị cáo đã sử dụng để trả lãi ngân hàng và chi tiêu cá nhân hết.

  2. Lần thứ hai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/4/2025, ông Đ không có nhà, bị cáo T tiếp tục vào phòng kho cạnh phòng khách, mở tủ gỗ, cặp và ví trộm cắp 4.000.000 đồng, gồm 8 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, sau đó cất ví, cặp vào vị trí ban đầu. Số tiền này bị cáo T đã sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.

  3. Lần thứ ba: Khoảng 15 giờ ngày 15/4/2025, bị cáo T vào phòng kho cạnh phòng khách mở tủ gỗ, cặp, ví trộm cắp hết số tiền trong ví được 11.000.000 đồng, gồm 20 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 05 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Số tiền này bị cáo T đã sử dụng để trả lãi ngân hàng và trả nợ hết.

  4. Lần thứ tư: Khoảng 10 giờ ngày 06/5/2025, bị cáo T mở chiếc tủ tôn màu xanh kê trong phòng ngủ, thấy trong tủ có một chiếc cặp bằng vải màu đen, ngăn ngoài cùng của cặp có nhiều tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 200.000 đồng. Bị cáo T trộm cắp 50 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, tổng là 5.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo T cất cặp vào vị trí cũ và đóng tủ lại như ban đầu. Số tiền này bị cáo T đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

  5. Lần thứ năm: Khoảng 9 giờ ngày 10/5/2025, bị cáo T tiếp tục mở tủ tôn màu xanh kê trong phòng ngủ trộm cắp trong chiếc cặp bằng vải màu đen số tiền 4.000.000 đồng gồm 10 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 20 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Sau đó, bị cáo T cất cặp vào vị trí ban đầu và đóng tủ lại. Số tiền này bị cáo T đã chi tiêu cá nhân hết 1.200.000 đồng, còn 2.800.000 đồng, bị cáo cất trong ví để ở cốp xe máy.

  6. Lần thứ sáu: Khoảng 10 giờ ngày 11/5/2025, bị cáo T tiếp tục vào phòng ngủ thấy cạnh tủ tôn màu xanh có một chiếc thùng bằng bìa catton, trong túi có một chiếc ví màu đỏ. Bị cáo T mở ví ra thấy có tiền và trộm cắp 1.000.000 đồng gồm 10 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Số tiền trộm cắp này bị cáo T cất trong ví để ở cốp xe máy chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện.

Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên quyết định:

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm g Khoản 1 Điều 52; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự; căn cứ vào Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tạ Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05 tháng 8 năm 2025, bị cáo Tạ Thị T kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên, xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tạ Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã tuyên và trình bày: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo còn có mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Do đó bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Phần tranh luận:

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Thị T về việc xin được hưởng án treo, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo T, giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Tạ Thị T không trình bày lời bào chữa về hành vi phạm tội của mình và không tranh luận về quan điểm của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Tạ Thị T được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận để xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tạ Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với bản án sơ thẩm đã nhận định. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong thời gian từ ngày 18/3/2025 đến ngày 11/5/2025, bị cáo Tạ Thị T làm giúp việc cho gia đình ông Nguyễn Hải Đ. Lợi dụng sơ hở của vợ chồng ông Nguyễn Hải Đ trong việc cất giữ tài sản, bị cáo T đã 06 lần trộm cắp tiền của vợ chồng ông Đ cất tại tủ gỗ đặt trong phòng kho cạnh phòng khách, cất ở thùng catton và cất ở tủ tôn kê tại phòng ngủ của nhà ông Đ. Tổng số tiền bị cáo T đã trộm cắp là 30.000.000 đồng.

“Điều 173. Tội Trộm cắp tài sản quy định: 1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...; 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Tạ Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, an ninh xã hội, trị an tại địa phương. Do đó cần phải xét xử bị cáo nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Tạ Thị T thì thấy, Bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ sau đối với bị cáo khi lượng hình là: Thành khẩn khai báo; bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen trong quá trình công tác; bị cáo có mẹ đẻ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T mức án 01 năm 03 tháng là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo T giao nộp: Biên lai nộp tiền án phí, Đơn xin hưởng án treo có nội dung bị cáo chấp hành tốt các chính sách tại địa phương, nộp đầy đủ các nghĩa vụ tại nơi cư trú, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương, nên đây là tài liệu, chứng cứ mới chứng minh bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Như vậy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 05 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét, bị cáo T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo vừa phải chăm chồng ốm đau, chăm bố chồng già yếu, vừa phải nuôi con học đại học nên kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo phải vay mượn tiền ngân hàng để trang trải cuộc sống. Với thu nhập từ lương hưu không đủ để trả nợ, chi tiêu trong cuộc sống hàng ngày nên bị cáo đi làm thêm giúp việc và trong lúc quẫn bách bị cáo đã bột phát thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên toà bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhiều tình tiết tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng cải tạo, rèn luyện để trở thành công dân tốt. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai phạm và chăm sóc gia đình, cũng chính là thể hiện chính sách hình sự của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Bị cáo Tạ Thị T có kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Thị T về việc xin được hưởng án treo, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo T, giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự; căn cứ vào Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tạ Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 22/10/2025.

    Giao bị cáo Tạ Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Á, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

  4. Về án phí: Bị cáo Tạ Thị T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 22/10/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND, VKSND, THADS
  • khu vực 6 - Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, HCTP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 95/2025/HS-PT ngày 22/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 95/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Thị T - Trộm cắp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger