Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 949/2025/DS-PT

Ngày: 04/12/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sở hữu nhà và

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Liên Anh
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Hoàng
Bà Đặng Mai Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Phạm Phương Thảo, Thư
ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Bà Trần Thị Ngoan, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2020/TLPT - DS ngày 07 tháng 02 năm 2020 về việc: "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2019/DS-ST ngày 26/9/2019 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 897/2025/QĐ-PT ngày 24/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  1. Ông Bùi Quang T, sinh năm: 1960
  2. Bà Nguyễn Thu H, sinh năm 1975 .

Trú tại: Số nhà A ngõ D phố H, phường B, Thành phố Hà Nội.

Bà H ủy quyền cho ông T theo giấy ủy quyền số 1691/2015 ngày 28/10/2015 tại Văn phòng C.

Bị đơn:

  1. Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1944.
  2. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1947.

Cùng HKTT và trú tại: Số nhà F, ngách E, đường T, phường T, Thành phố Hà Nội.

Ông Đ, bà P ủy quyền cho anh Vũ Hoàng T1 theo Giấy ủy quyền số 039.2017 ngày 13/3/2017 tại Văn phòng C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.

  1. Anh Vũ Hoàng T1, sinh năm 1970
  2. Chị Trần Kim L, sinh năm 1985
  3. Cháu Vũ Phương L1 (con anh T1, chị L), sinh năm 2007
  4. Cháu Vũ Hoàng Tuấn A (con anh T1, chị L), sinh năm 2009
  5. Cháu Vũ Hoàng Tuấn S (con anh T1, chị L), sinh năm 2009

Cùng HKTT và trú tại: Số nhà F, ngách E, đường T, phường T, Thành phố Hà Nội.

Chị L ủy quyền cho anh T1 theo giấy ủy quyền số 039.2017 ngày 13/3/2017 tại Văn phòng C. Địa chỉ: Số B L, phường B, quận T, Thành phố Hà Nội.

Anh Vũ Hoàng T1 là người đại diện cho cháu L1, Tuấn A, Tuấn S.

  1. Ông Vũ Văn T2, chết ngày 11/10/2024

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T2 là bà Đỗ Thị Minh T3

  1. Bà Đỗ Thị Minh T3, sinh năm 1963

Cùng HKTT: Số F ngõ E tổ B cụm E phường B, quận T, Thành phố Hà Nội.

Bà T3 ủy quyền cho ông Đỗ Huy L2; trú tại: Số nhà D, ngõ B, đường T, phường T, Thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền số chứng thực 109 quyền số 01-SCT/CK,ĐC ngày 23/3/2017 tại Văn phòng C.

  1. Văn phòng C.

Địa chỉ: Thôn T, xã B, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn T4 - Trưởng văn phòng.

Do có kháng cáo của ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P là bị đơn, anh Vũ Văn T5, ông Vũ Văn T2, bà Đỗ Thị Minh T3 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

* Nguyên đơn trình bày: Ông với anh Vũ Văn T6 là bạn bè xã hội, anh T6 nói chuyện với ông là gia đình bố mẹ anh có nhu cầu bán nhà tại địa chỉ F ngách E đường T, phường B, quận T, Thành phố Hà Nội. Ông đến nhà ông Đ 2 lần, ông Đ đưa cho ông xem giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Sau khi gặp ông Đ nói với ông giá chuyển nhượng là 1.700.000.000 đồng, hai bên đồng ý và tiến hành giao dịch.

Ngày 20/01/2012, tại Văn phòng C, địa chỉ ở H, quận H, Hà nội hai bên ký kết hợp đồng và giao tiền. Tại văn phòng, có mặt ông Đ, bà P, vợ chồng ông và công chứng viên Trần Văn T4 chứng nhận việc ông giao trực tiếp tiền mặt số tiền là 1.700.000.000 đồng cho ông Đ, bà P và ông Đ bà P giao cho ông giấy chứng nhận, hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng. Khi giao tiền 2 bên có làm giấy biên nhận nhưng vì ký hợp đồng chuyển nhượng nên giấy biên nhận tiền này ông đã hủy bỏ, không còn lưu giữ.

Trong Hợp đồng chuyển nhượng chỉ ghi giá chuyển nhượng là 1.000.000.000 đồng, để giảm trừ thuế thu nhập cá nhân.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở có số công chứng 01120054/CNQSHN&QSDĐ; quyển số 01 ngày 20/01/2012 giữa ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P (bên bán) với anh Bùi Quang T và chị Nguyễn Thu H (bên mua) lập tại Văn phòng C. Bên bán chuyển nhượng cho bên mua 34,73m² đất ở trên có nhà 2 tầng, tổng diện tích sử dụng 50,735m² tại thửa đất số 68 (A+B)I, tờ bản đồ số 8E-IV-10 đã được cấp Giấy chứng nhận

quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 101030011473 do UBND Thành phố H cấp ngày 7/12/2001 cho ông Đ, bà P nhà ở tại 4B tổ B cụm E phường B, quận T, Thành phố Hà Nội. Thực tế lúc đó có 1 phần diện tích nhà 3 tầng nhưng vì trong giấy chứng nhận không thể hiện tầng 3 nên trong hợp đồng không nêu. Do sơ xuất của hợp đồng chuyển nhượng không mô tả phần diện tích này nhưng thực tế là tại thời điểm mua bán nhà giữa hai bên đã có và ông trả tiền mua nhà là trả cả phần diện tích tầng 3 không có trong giấy chứng nhận cũng như không được mô tả trong hợp đồng mua bán. Nếu trường hợp tòa án căn cứ theo pháp luật mà thấy rằng vợ chồng ông phải trả tiền đối với diện tích này thì vợ chồng ông cũng tự nguyện trả đối với giá trị sử dụng diện tích tầng 3 là khoảng 17m, giá tính theo Biên bản định giá ngày 12 tháng 7 năm 2017. Đến nay, tôi không đề nghị tòa án tiến hành định giá lại mà đề nghị tòa án căn cứ vào biên bản định giá ngày 12 tháng 7 năm 2017 để giải quyết.

Ông chưa nhận nhà vì, ông Đ, bà P nói cho ở nhờ 1 thời gian đến khi nào xây xong nhà mới thì sẽ chuyển đi. Ông tin tưởng nên không viết giấy mượn nhà. Ông Đ, bà P mua đất, xây nhà ở đâu ông không biết.

Ngày 19/11/2013, ông mới làm thủ tục đăng ký chuyển nhượng sang tên ông và vợ. Vì ông bận không chuyển sang tên ngay nên Chi cục thuế quận T phạt 20.000.000 đồng.

Sau đó ông, không thấy ông Đ giao nhà nên ông khởi kiện tại Tòa án.

Quá trình ông mua nhà ông chỉ biết có ông Đ, bà P và anh T5 (con trai ông Đ) ở đó, ngoài ra còn có ai không ông không biết. Quá trình giao dịch, ông chỉ yêu cầu ông Đ bà P ký chuyển nhượng còn anh T5 không ký chuyển nhượng vì không có tên trong giấy chứng nhận.

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Đ và bà P có đơn tố cáo vợ chồng ông đến cơ quan công an về giả mạo chữ ký, ông đã chấp hành khi Cơ quan điều tra C1 gọi đến làm việc nhưng sau đó không thông báo kết quả cho ông. Đến nay, ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án chứ không đợi kết quả giải quyết của cơ quan điều tra vì thời gian quá lâu mà cơ quan công an chưa giải quyết được vì họ nêu lý do phải tìm anh T6 là con của ông Đ và bà P.

Trước đây, do sự tố cáo của ông Đ và bà P về việc Văn phòng C ký văn bản công chứng không đúng, Văn phòng công chứng đã giám định chữ ký của ông Đ và bà P nên ông không đề nghị giám định lại chữ ký của các bên trong Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất lập ngày 20 tháng 1 năm 2012.

Đến nay, ông bà đề nghị Tòa án căn cứ vào pháp luật để giải quyết, buộc ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở có số công chứng 01120054/CNQSHN&QSDĐ; quyển số 01 ngày 20/01/2012 lập tại Văn phòng C. Ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hiện đang sinh sống trên diện tích nhà đất đang có tranh chấp phải bàn giao nhà đất nêu trên cho vợ chồng ông.

* Bị đơn trình bày:

Nguồn gốc nhà đất tại số F ngách E phố T, quận T, Thành phố Hà Nội, là của bố mẹ di chúc lại cho ông Vũ Văn Đ.

Đến năm 2001, theo qui định của Nhà nước, vợ chồng ông kê khai và được UBND Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền

sử dụng đất ở số 10103011475 ngày 07/12/2001 mang tên ông Vũ Văn Đ và vợ là Nguyễn Thị P. Địa chỉ số 4b tổ B cụm E phường B, quận T (số mới là 6 ngách E phố T, phường B), có diện tích là 34m².

Vợ chồng ông có 2 người con trai: Vũ Hoàng T1, sinh năm 1970 và Vũ Văn T6, sinh năm 1975. Anh T1 kết hôn năm 2006 với chị Trần Kim L về chung sống cùng bố mẹ chồng. Anh T6 cũng kết hôn và chung sống tại đó. Vì mấy hộ gia đình ở đó, chật chội dễ xảy ra va chạm nên ông quyết định xây tường, ngăn đôi nhà 2 tầng, chia làm 2 cho 2 con. Anh T1 cùng vợ chồng ông và các con ở phía trái sát nhà chị O, anh T7. Còn nửa bên kia là vợ chồng anh T6 ở. Năm 2010, phần nửa nhà anh T1 ở đã xây thành nhà 3 tầng như hiện nay.

Sau đó, anh T6 đã đổi nửa nhà mà ông chia, cho vợ chồng anh Vũ Văn T2, chị Đỗ Minh T3 lấy nhà gần đó, cụ thể như thế nào vợ chồng ông không can thiệp. Vì sổ đỏ có diện tích nhỏ nên không thể sang tên được, do đó ông không làm thủ tục giấy tờ nhưng thực tế đã chia xong.

Đến cuối năm 2011, ông thấy có người đàn ông đến hỏi thăm anh T6. Ông hỏi có việc gì thì được biết là ông T cho anh T6 vay nợ. Lúc đầu thì chỉ nói là vay vài triệu, sau đó tiền trăm triệu và có lúc là 1 tỷ đồng.

Bẵng đi một thời gian, đến tháng 11/2013, ông T mang hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đến cho gia đình ông. Ông T nói con trai ông là Vũ Văn T6 đã bán nhà đất cho anh T rồi, khi đó ông thấy lo sợ và đi tìm sổ đỏ nhưng không thấy. Lúc này, ông không tìm thấy sổ đỏ và biết là đã mất. Qua sự việc này, ông nghi ngờ, thời gian ông sửa nhà, giấy tờ để không cẩn thận, anh T6 đã cầm đi để thế chấp vay vốn kinh doanh.

Từ năm 2012, vợ chồng anh T6 kinh doanh nên vỡ nợ và bỏ trốn khỏi địa phương từ đó cho đến nay. Gia đình ông không có tin tức, thông tin liên lạc gì về vợ chồng và 2 con anh T6 hiện nay đang ở đâu.

Sau khi ông T đến nhà ông và ông thấy mất sổ đỏ nên đã làm đơn tố cáo đến các cơ quan công an, nhưng hiện nay vẫn chưa có hồi âm.

Gia đình ông nghèo khó, có công với cách mạng, tài sản duy nhất là 17m² nhà đất đang ở sinh hoạt nên không có ý định bán nhà để xây nhà nào khác. Do vậy sổ đỏ ông cũng cất giữ chứ không để ý đến. Khi mất t ông cũng không đi làm lại vì không cần để làm gì.

Việc ông T khai, vợ chồng ông đến Văn phòng C ở H để ký kết hợp đồng chuyển nhượng và giao tiền cho vợ chồng tôi là hoàn toàn bịa đặt. Vợ chồng ông không biết mặt anh T4 công chứng viên cũng như chị H là ai, không nhận tiền của anh T, không đến văn phòng C ký kết bất cứ văn bản nào.

Chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng này, ông nhìn thấy giống chữ ký của ông nhưng vì ông không ý định bán nhà nên không thể có chuyện ký giấy tờ. Còn nếu có ký thì do anh T6 lừa vợ chồng ông ký lúc nào, giấy tờ gì ông không nắm được.

Đối với yêu cầu khởi hiện của ông T, bà H ông không đồng ý. Vì thực tế, ông không bán nhà, không vay nợ, không liên quan đến ông T, bà H. Đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Văn phòng C do ông Trần Văn T4 là trưởng Văn phòng trình bày:

Văn phòng Luật Sư T8, trụ sở ở B H, quận H, Thành phố Hà Nội nhận hồ sơ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất, sau đó chuyển Văn phòng C làm hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho ông Bùi Quang T. Ngày 20/1/2012, ông đến Văn phòng Luật sư T8 có mặt ông Bùi Quang T và vợ Nguyễn Thu H với vợ chồng ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P để ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số D tổ B cụm E phường B, quận T, Thành phố Hà Nội.

Ông đã kiểm tra Hồ sơ công chứng gồm có: Chứng minh thư nhân dân, Hộ khẩu thường trú của bên mua là ông Bùi Quang T và vợ Nguyễn Thu H và Chứng minh T9 nhân dân, Hộ khẩu thường trú của bên bán ông Vũ Văn Đ và vợ bà Nguyễn Thị P cùng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 101030011473 do UBND Thành phố H cấp ngày 7/12/2001 cho ông Đ, bà P nhà ở tại 4B tổ B cụm E phường B, quận T, Thành phố Hà Nội trên thửa đất số 68(A+B)I tờ bản đồ số 8E-IV-10, có diện tích 34,73m². Sau khi thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hai bên mua bán đã đọc lại, đồng ý ký tên và điểm chỉ vân tay vào bản lưu hợp đồng, còn 4 bản giao cho các bên có chữ ký nhưng không có vân tay điểm chỉ. Chứng kiến việc ký chuyển nhượng trên xong ông mang về Văn phòng công chứng đóng đấu và hẹn quay lại Văn phòng Luật sư nhận hợp đồng có dấu công chứng. Hợp đồng công chứng được lập thành 5 bản có giá trị pháp lý như nhau, ông chuyển lại cho Văn phòng C để giao trả cho các bên cụ thể như thế nào ông không nắm được. Việc hai bên mua bàn giao tiền và nhà cho nhau như thế nào ông không biết, được qui định nêu rõ tại Mục 2 Điều 2 trong hợp đồng chuyển nhượng. Ngoài những người tham gia ký hợp đồng thì không còn ai khác chứng kiến việc này.

Ngày 27/11/2013, ông Đ, bà P gửi đơn trình bày cho Văn phòng C yêu cầu giải thích về việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng và xử lý nghiêm minh hành vi giả mạo chữ ký của ông Đ, bà P. Ông Đ, Bà P còn gửi đi nhiều nơi khác gây ảnh hưởng đến uy tín của Văn phòng. Do vậy, ngày 2/12/2013, Văn phòng C đã có công văn số 15/CV-CCĐL yêu cầu giám định vân tay của ông Đ, Bà P trong hợp đồng chuyển nhượng đến V Bộ C2. Ngày 9/1/2014, V có kết luận về việc giám định chữ ký số 2080-CV/C54-P5 về việc xác định chữ ký, chữ viết cầu ông Đ, bà P. Văn phòng làm công văn giám định vân tay nhưng V Bộ C2 giám định chữ ký, chữ viết. Kết luận này tôi đã gửi cho các bên có liên quan, từ đó cho đến nay không thấy ông Đ, bà P có ý kiến gì nữa.

Văn phòng C xin vắng mặt trong quá trình tố tụng.

- Anh T1, chị L và các con thống nhất trình bày:

Chúng tôi đồng ý với ý kiến của ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P đã trình bày. Lời khai của ông T, bà H về việc ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P chuyển nhượng nhà đất là bịa đặt. Nếu sự thật, anh T6 vay nợ ông T dẫn đến việc lấy sổ đỏ của gia đình đi cầm cố thế chấp thì anh chị đề nghị Tòa án giải quyết, công nhận yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận cho bố mẹ anh và chú thím anh. Còn anh T6 nợ tiền ông T thì phải tự trả vì đã trưởng thành.

Tại địa chỉ nhà đất này có 3 sổ hộ khẩu gia đình gồm 9 người đang sinh sống. Toàn bộ tiền sửa chữa cơi nới nhà nguyên thủy để thành nhà 3 tầng như

hiện nay hết khoảng 200.000.000 đồng là của anh Vũ Hoàng T1 và chị Trần Kim L. Tất cả các hóa đơn chứng từ về việc sửa chữa đã lâu bị thất lạc nên không còn lưu giữ.

Đề nghị tòa án giải quyết theo pháp luật đối với việc thực hiện hợp đồng mua bán giữa ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P với ông Bùi Quang T và bà Nguyễn Thu H.

- Ông T2 và bà T3 trình bày:

Khoảng năm 2010, vợ chồng anh T6 sau khi được ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P chia nhà đất thì đã đổi 1/2 nhà số D tổ B cụm E phường B, quận T, Thành phố Hà Nội cho ông Vũ Văn T2 và bà Đỗ Thị Minh T3, thời điểm này ông T2 và bà T3 đã có nhà đất khác tại tổ B cụm E phường B, quận T, Thành phố Hà Nội đã được Ủy ban nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Do khi đổi thì diện tích đất không đủ để tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì có 17m² nên đã yêu cầu ông Đ và bà P lập hợp đồng trao đổi quyền sử dụng đất ở và nhà ở cùng với bản di chúc có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B, quận T, Thành phố Hà nội. Ông T và bà H chỉ được phép mua 1/2 diện tích nhà đất nhà số D tổ B cụm E phường B, quận T, Thành phố Hà Nội. Ông T2 và bà T10 đề nghị Tòa án căn cứ theo qui định của pháp luật để giải quyết vụ án và chỉ phán quyết phần diện tích của bà P, ông Đ đang ở và sử dụng. Ông bà đã được Tòa án giải thích pháp luật về việc yêu cầu độc lập nhưng hiện tại chưa nộp đơn yêu cầu độc lập và đợi phán quyết của Tòa án sơ thẩm sau đó sẽ có ý kiến đối với Tòa án cấp phúc thẩm. Cho dù bên nào thắng hoặc thua kiện thì vẫn phải giữ nguyên hiện trạng nhà đất và sinh hoạt tại tổ B cụm E phường B, quận T, Thành phố Hà Nội như từ năm 2010,

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của

Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Quang T và chị Nguyễn Thu H đối với ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P về việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở có số công chứng 01120054/CNQSHN&QSDĐ; quyển số 01 ngày 20/01/2012 lập tại Văn phòng C về chuyển nhượng nhà đất thuộc thửa đất số 68 (A+B)I, tờ bản đồ số 8E-IV-10 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 101030011473 do UBND thành phố H cấp ngày 7/12/2001 cho ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P có địa chỉ theo giấy chứng nhận là tại số D tổ B cụm E( nay là số F ngõ E đường T) phường B, quận T, thành phố Hà Nội đã được đăng ký sang tên ông Bùi Quang T và bà Nguyễn Thu H tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận T ngày 19/11/2013.

2. Buộc ông Vũ Văn Đ; bà Nguyễn Thị P; ông Vũ Văn T2; bà Đỗ Thị Minh T3; anh Vũ Hoàng T1; chị Trần Kim L; cháu Vũ Phương L1, cháu Vũ Hoàng Tuấn A, cháu Vũ Hoàng Tuấn S (con anh T1 và chị L ) là những người đang ở tại nhà đất thuộc thửa đất số 68 (A+B)I, tờ bản đồ số 8E- IV-10 tại số D tổ B cụm 5( nay là số F ngõ E đường T) phường B, quận T, thành phố Hà Nội phải có trách nhiệm bàn giao toàn bộ diện tích nhà, đất trên cho anh Bùi Quang T và chị Nguyễn Thu H.

3. Buộc anh Bùi Quang T thanh toán cho ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P mỗi người 22.092.000 đồng; Buộc chị Nguyễn Thu H thanh toán cho ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P mỗi người 22.092.000 đồng.

4. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập không xét.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không nhất trí với quyết định của Bản án sơ thẩm bị đơn ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn T5, ông Vũ Văn T2, bà Đỗ Thị Minh T3 kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Ông Đức bà P không chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông T. Việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng chỉ là để che đậy cho việc anh T6 vay tiền của ông T. Hai bên không có việc bàn giao tiền và nhà. Gia đình ông Đ vẫn ở tại nhà đất tranh chấp. Đề nghị HĐXX sửa án sơ thẩm, tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 01120054/CNQSHN&QSDĐ; quyển số 01 ngày 20/01/2012 giữa ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P (bên bán) với ông Bùi Quang T và bà Nguyễn Thu H vô hiệu. Anh T6 vay tiền ông T thì phải trả ông T.

* Nguyên đơn ông Bùi Quang T trình bày: Việc các bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng là tự nguyện. Ông đã giao cho anh T6 500.000.000 đồng trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng ông giao tiếp hơn 1.000.000.000 đồng. Đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm. Nếu vợ chồng ông Đ không bàn giao nhà thì có thể thanh toán tiền cho ông.

* Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Minh T3 đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại vì thực tế vợ chồng ông Đ không chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông T.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn T5, ông Vũ Văn T2, bà Đỗ Thị Minh T3 nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.

Quá trình giải quyết vụ kiện, ông Vũ Văn T2 chết. Ông T2 có vợ là bà T3, không có con nên xác định bà T3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T2.

Về nội dung:

Nguyên đơn đề nghị bị đơn thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 01120054/CNQSHN&QSDĐ; quyển số 01 ngày 20/01/2012 giữa ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P (bên bán) với anh Bùi Quang T và chị Nguyễn Thu H lập tại Văn phòng C. Nội dung của hợp đồng thì bên bán chuyển nhượng cho bên mua 34,73m² đất ở trên có nhà 2 tầng, tổng diện tích sử dụng 50,735m² tại thửa đất số 68 (A+B)I, tờ bản đồ số 8E-IV-10 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 101030011473 do UBND Thành phố H cấp ngày 7/12/2001 cho ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P nhà ở tại 4B tổ 28 cụm 5 ( nay là nhà số F ngõ E phố T) phường B, quận T, Thành phố Hà Nội.

Bị đơn ông Đ bà P không thừa nhận chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng là của ông bà.

Ngày 2/12/2013, Văn phòng C đã có công văn số 15/CV-CCĐL yêu cầu giám định vân tay của ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P trong hợp đồng chuyển nhượng đến V Bộ C2. Ngày 9/1/2014, V có kết luận về việc giám định chữ ký số 2080-CV/C54-P5 về việc xác định chữ ký, chữa viết của ông Đ, bà P trả lời như sau:

“..3.1 Chữ ký thứ nhất ở góc trái phía dưới tính từ trên xuống tại các trang 1,2,3 và chữ ký, các chữ “ Vũ Văn Đ” dưới mục “ Bên A” trên tài liệu ký hiệu A so với chữ ký và chữ viết của ông Vũ Văn Đ trên các tài liệu mẫu ký M1,M2 không đủ cơ sở kết luận người ký và người viết. Cần thiết có thêm mẫu chữ ký, chữ viết của ông Vũ Văn Đ để giám định tiếp.

3.2. Chữ ký thứ hai ở góc trái phía dưới tính từ trên xuống tại các trang 1,2,3 và chữ ký, các chữ “Nguyễn Thị P” dưới mục “ Bên A” trên tài liệu ký hiệu A so với chữ ký và chữ viết của bà Nguyễn Thị P trên các tài liệu mẫu ký M1,M3 là chữ ký, chữ viết của cùng một người.”.

Tại cấp phúc thẩm, Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội đã có quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết Vũ Văn Đ, Nguyễn Thị P tại Hợp đồng chuyển nhượng. Ngày 02/7/2020 Phòng giám định kỹ thuật hình sự Bộ Q đã có Kết luận số 13//GĐKTHS-P11 kết luận: Chữ ký, chữ viết Vũ Văn Đ, Nguyễn Thị P tại hợp đồng chuyển nhượng và chữ ký, chữ viết mẫu so sánh do cùng một người ký viết ra.

Xét thấy: Ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P có nêu ý kiến là không ký văn bản công chứng về việc mua bán với ông Bùi Quang T và bà Nguyễn Thu H và giả mạo chữ ký nhưng căn cứ vào Kết luận giám định giám định số 13//GĐKTHS-P11ngày 02/7/2020 Phòng giám định kỹ thuật hình sự Bộ Q đủ cơ sở khẳng định có việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số công chứng 01120054/CNQSHN&QSDĐ; quyển số 01 ngày 20/01/2012 giữa ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P (bên bán) với ông Bùi Quang T và bà Nguyễn Thu H lập tại Văn phòng C. Như vậy, về hình thức hợp đồng chuyển nhượng phù hợp với quy định của BLDS.

Về nội dung:

Tại Điều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở có qui định về giá chuyển nhượng và phương thức thanh toán:

1.Giá chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này là: 1.000.000.000 đồng;

2.Việc giao và nhận tiền chuyển quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo phương thức và thời hạn do hai bên tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Nguyên đơn không xuất trình giấy giao nhận tiền với lý do sau khi làm thủ tục sang tên nhà đất vì thấy không cần thiết nên không còn lưu giữ. Nguyên đơn khai để thực hiện việc mua bán thì ngày 20 tháng 1 năm 2012, ông Bùi Quang T có rút vàng tại Phòng G –Ngân hàng H1 và bán lại cho Ngân hàng được số tiền 968.440.000 đồng (đã được ngân hàng xác nhận). Bị đơn không thừa nhận đã được nhận tiền với lý do không ký kết hợp đồng chuyển nhượng.

Nhận thấy, bên nhận chuyển nhượng không xuất trình được tài liệu về việc đã giao tiền cho bên chuyển nhượng. Hợp đồng chuyển nhượng cũng không ghi nhận việc các bên đã thanh toán tiền cho nhau. Mặt khác, ông T bà H không được ông Đ bà P bàn giao nhà đất trên thực tế. Hiện nhà đất vẫn do gia đình ông Đ quản lý sử dụng.

Tại Thông báo số 144/TB- VHS- P3 ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội xác định anh T6 con ông Đ bà P có vay tiền của ông T. Để đảm bảo cho khoản vay của anh T6 và theo yêu cầu của anh T6, ông Đ bà P đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng nhà đất trên cho anh T.

Từ phân tích trên đủ cơ sở xác định các bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng nhằm che đậy cho việc vay nợ giữa anh T6 và ông T. Không có việc chuyển nhượng nhà đất trên thực tế. Do đó Hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu do giả tạo, nhằm che dấu giao dịch vay tiền giữa ông T và anh T6.

Bản án sơ thẩm xác định Hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng quy định nên sửa án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng và buộc bị đơn bàn giao nhà đất. Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập. Các bên không có yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu trong vụ án này nên có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.

* Xét yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.

Đối với ông Vũ Văn T2 và bà Đỗ Thị Minh T3 đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì lý do là có việc đổi diện tích nhà đất của ông Vũ Văn T2 và bà Đỗ Thị Minh T3 với 1/2 thửa đất số 68 (A+B)I, tờ bản đồ số 8E-IV-10 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 101030011473 do UBND Thành phố H cấp ngày 7/12/2001 cho ông Đ, bà P. Ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P, ông Vũ Văn T2 và bà Đỗ Thị Minh T3 đều khai là do 1/2 diện tích nhà đất hiện ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P đứng tên trong giấy chứng nhận không đủ diện tích để sang tên người khác trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở vì không được pháp luật cho phép nhưng vẫn tiến hành trao đổi. Mặt

khác, các bên có nêu trình bày là vì không đủ diện tích nên ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P có lập bản di chúc ngày 22 tháng 11 năm 2010 có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B, quận T - tại bản di chúc cũng đã nêu ‘...Trường hợp chúng tôi chuyển nhượng toàn bộ diện tích nhà đất thì vợ chồng ông Vũ Văn T2 và bà Đỗ Thị Minh T3 được hưởng một nửa (1/2) tổng số tiền thu được. Bản di chúc này có hiệu lực sau khi hai vợ chồng chúng tôi qua đời...”. Ông Vũ Văn T2 và bà Đỗ Thị Minh T3 không có đơn yêu cầu độc lập đối với việc trao đổi nhà với ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P đề nghị Tòa án xem xét trong vụ án này. Mặt khác, do bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nếu các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

Văn phòng C được xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn T5, ông Vũ Văn T2, bà Đỗ Thị Minh T3.

Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận bị đơn ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn T5, ông Vũ Văn T2, bà Đỗ Thị Minh T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí kháng cáo đã nộp.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn ông T bà H phải chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Bùi Quang T đã nộp 10.500.000 đồng Theo biên lai số 5221 ngày 5/5/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ. Ông Bùi Quang T được nhận lại 10.200.000 đồng.

Ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2019/DS-ST ngày 26/9/2019 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 122, Khoản 2 điều 170, Điều 234, 450, 451 Bộ luật dân sự năm 2005.
  • Điều 124 Bộ luật dân sự 2015
  • Điểm đ Khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Quang T và bà Nguyễn Thu H đối với ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P về việc thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở có số công chứng 01120054/CNQSHN&QSDĐ; quyển số 01 ngày 20/01/2012 lập tại Văn phòng C về chuyển nhượng nhà đất thuộc thửa đất số 68 (A+B)I, tờ bản đồ số 8E-IV-10 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 101030011473 do UBND Thành phố H cấp ngày 7/12/2001 cho ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P có địa chỉ theo giấy chứng nhận là tại số D tổ B cụm E( nay là số F ngõ E đường T) phường B, quận T, Thành phố Hà Nội.

Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn ông Vũ Văn Đ, bà Nguyễn Thị P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn T5, ông Vũ Văn T2, bà Đỗ Thị Minh T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí kháng cáo đã nộp tại Biên lai thu số 0003727; 0003728; 0003729 ngày 24/10/2019; Biên lai số 0003735; 0003736 ngày 29/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ.( Dự phí kháng cáo của ông T2 do người kế thừa quyền và nghĩa vụ là bà Đỗ Thị Minh T3 được nhận)

Án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn ông T bà H phải chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch. Đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Bùi Quang T đã nộp 10.500.000 đồng Theo Biên lai số 5221 ngày 5/5/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ. Ông Bùi Quang T được nhận lại 10.200.000 đồng.

Ông Vũ Văn Đ và bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Trần Thị Liên Anh

Nơi nhận:

  • - VKSND Thành phố Hà Nội;
  • - TAND khu vực 1 – Hà Nội;
  • - Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 949/2025/DS-PT ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 949/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Quang Tuyến - Vũ Văn Đức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger