|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG Bản án số: 93/2025/HNGĐ - ST Ngày: 30-10-2025 V/v: "Tranh chấp ly hôn" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
2. Bà Dương Thị Tố Như
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thu H, sinh năm: 1995; địa chỉ: Số I T, phường A B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hân H1, sinh năm: 1990; địa chỉ: 9 T, phường A B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 18/8/2025 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hân H1 sau thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố B (nay là phường A B) vào ngày 04/9/2020, việc kết hôn là tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn là phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống thường ngày; ngoài ra anh H1 chơi bời, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Chị đã cố gắng vì con mà bỏ qua, khuyên bảo anh H1 nhiều lần nhưng anh H1 không thay đổi nên mâu thuẫn không thể giải quyết được mà ngày càng trầm trọng hơn khiến chị không thể chịu đựng được thêm nữa. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Hân H1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Đan Tuệ D, sinh ngày 30/3/2024. Nay chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D cho đến khi đủ 18 tuổi; yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ, thời gian cấp dưỡng từ tháng 10/2025 đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.
Bị đơn anh Nguyễn Hân H1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Thu H tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố B (nay là phường A B) vào ngày 04/9/2020. Trong quá trình chung sống những năm đầu vợ chồng cũng hạnh phúc nhưng sau này vợ chồng thường xuyên cãi nhau và bất đồng quan điểm, anh thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn như chị H trình bày là đúng. Nay chị H yêu cầu được ly hôn thì anh chưa đồng ý vì vẫn còn tình cảm vợ chồng.
Về con chung: Đúng là vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Đan Tuệ D, sinh ngày 30/3/2024. Trường hợp phải ly hôn thì anh cũng đồng ý giao cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và anh sẽ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ, thời gian cấp dưỡng từ ngày Tòa án cho ly hôn.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành. Vì vậy, đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Do vụ án này Tòa án không thu thập thêm tài liệu, chứng cứ ngoài những tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng không tham gia phiên tòa.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Trần Thu H vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu của mình; bị đơn anh Nguyễn Hân H1 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Trần Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Hân H1. Bị đơn anh Nguyễn Hân H1 có địa chỉ cư trú tại phường A B, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, đây là tranh chấp về “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2, 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật số: 85/2025/QH15).
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Hân H1 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng anh H1 theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thu H và anh Nguyễn Hân H1 đã được UBND xã L, thành phố B (nay là phường A B) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 04/9/2020, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, thời điểm đăng ký cả hai đều đủ điều kiện kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp.
Theo chị H thì trong quá trình chung sống thì vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn là phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống thường ngày; ngoài ra anh H1 chơi bời, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con.
Còn theo anh H1 thì trong quá trình chung sống những năm đầu vợ chồng cũng hạnh phúc nhưng sau này vợ chồng thường xuyên cãi nhau và bất đồng quan điểm, anh thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn như chị H trình bày là đúng.
Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H, anh H1 là có xảy ra trên thực tế, nguyên nhân phần lớn là do anh H1 chơi bời, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con và mâu thuẫn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị H vẫn cương quyết giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh H1. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh H1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Chị H và anh H1 đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Đan Tuệ D, sinh ngày 30/3/2024.
Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu D cho đến khi trưởng thành và yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ, thời gian cấp dưỡng từ tháng 10/2025 đến khi con trưởng thành.
Còn anh H1 cũng đồng ý giao cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ, thời gian cấp dưỡng từ ngày Tòa án cho ly hôn đến khi con trưởng thành.
Tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Trong khi cháu Nguyễn Đan Tuệ D đến nay chưa đủ 36 tháng tuổi.
Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Đan Tuệ D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành; anh H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ, thời gian cấp dưỡng từ tháng 10/2025 cho đến khi con trưởng thành là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Trần Thu H và anh Nguyễn Hân H1 đều không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Chị Trần Thu H và anh Nguyễn Hân H1 đều xác nhận không có nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thu H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn. Bị đơn anh Nguyễn Hân H1 phải chịu 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 205, 207, 220, 227, 228, 262, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2, 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật số: 85/2025/QH15);
- - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 18, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Trần Thu H đối với bị đơn anh Nguyễn Hân H1.
Cho chị Trần Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Hân H1.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đan Tuệ D, sinh ngày 30/3/2024 cho chị Trần Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Hân H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đ, thời gian cấp dưỡng từ tháng 10/2025 cho đến khi con trưởng thành.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Buộc chị Trần Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0002518 ngày 20/8/2025 của Chi hành án dân sự tỉnh L (chị H đã nộp đủ). Buộc anh Nguyễn Hân H1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án chị Trần Thu H có quyền kháng cáo; đối với anh Nguyễn Hân H1 thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ninh Khắc Phong |
Bản án số 93/2025/HNGĐ - ST ngày 30/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 93/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thu H ly hôn anh Nguyễn Hân H1
