|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 93/2025/HNGĐ-ST Ngày 29-9-2025 V/v "Tranh chấp ly hôn, con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Vịnh
Bà Ngô Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 148/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn và con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Anh Ngô Quang L, sinh năm 1976 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ HKTT: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Nay là thôn V, xã T, tỉnh Bắc Ninh).
-Bị đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ HKTT: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Nay là thôn V, xã T, tỉnh Bắc Ninh).
Hiện đang ở Đài Loan, Trung Quốc không rõ địa chỉ.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị B, sinh năm 1957 ( có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã M, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Ngô Quang L trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Vũ Thị T ngày 08/5/2009, trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm sống làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Năm 2016 chị T bỏ về nhà mẹ đẻ ở sau đó đi làm ăn xa ở Đài Loan và từ đó chưa về nước, anh cũng không còn liên lạc được với chị T và không biết địa chỉ cụ thể hiện nay của chị T ở đâu. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau và đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được anh làm đơn xin được ly hôn với chị Vũ Thị T.
-Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Ngô Minh T1, sinh ngày 20/9/2010 và Ngô Thị Ánh N, sinh ngày 22/11/2012. Hiện các con khỏe mạnh, phát triển bình thường con N đang ở cùng anh ở thôn V, xã T, con T1 ở cùng bà ngoại ở thôn N, xã M. Vợ chồng ly hôn anh đề nghị giao con chung là Ngô Thị Ánh N cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Giao con chung là Ngô Minh T1 cho chị Vũ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Ngô Quang L không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Ngô Quang L có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xin xét xử vắng mặt.
*Bị đơn chị Vũ Thị T đã được Tòa án tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho bà Trần Thị B là mẹ đẻ nhận thay và cam kết thông báo cho chị T theo quy định của pháp luật. Tòa án đã niêm yết thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với chị Vũ Thị T theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng chị T không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải nhưng chị T vắng mặt mà không có lý do nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa chị Vũ Thị T được Tòa án triệu tập, tống đạt, niêm yết hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B trình bày: Bà là mẹ đẻ của chị Vũ Thị T. Năm 2009 chị T kết hôn với anh L hai bên có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Cưới xong anh chị về chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể bà không nắm được.
Do vợ chồng mâu thuẫn, năm 2016 chị T cùng con gái là cháu T1 chuyển về nhà bà ở và chị T đi làm ăn xa ở Đài Loan, Trung Quốc từ năm 2016 đến nay. Trước khi đi chị T có nhờ bà tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T1, hiện nay chị T chưa về nước.
Do anh L không cung cấp được địa chỉ của chị Vũ Thị T ở Đài Loan nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình chị T. Bà Trần Thị B (là mẹ đẻ của chị T) trình bày: Bà không biết địa chỉ cụ thể của chị T ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Nhưng bà thường xuyên liên lạc với chị T qua mạng xã hội như Zalo. Việc anh L làm đơn xin ly hôn với chị T bà có nhận các văn bản tố tụng do Tòa án giao và bà đã chụp gửi qua Zalo thông báo cho chị T biết về các văn bản tố tụng mà Tòa án đã gửi. Qua tin nhắn Zalo chị T có nói chuyện với bà về việc đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh L. Tuy nhiên, do ở xa chị T không thể về nước để đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Chị T có nhờ bà nhận thay chị T các văn bản tố tụng do Tòa án giao và thông báo nội dung cho chị T biết. Bà đồng ý nhận thay các văn bản tố tụng do Tòa án giao cho chị T và cam kết sẽ thông báo lại nội dung các văn bản cho chị T theo quy định của pháp luật.
Về con chung giữa chị T và anh L có hai con chung là Ngô Minh T1 và Ngô Thị Ánh N. Hiện cháu N đang ở cùng anh L, cháu T1 đang ở cùng bà từ khi chị T đi nước ngoài đến nay. Nay anh L làm đơn xin ly hôn chị T, chị T có nói với bà về việc đề nghị giao mỗi người nuôi một con chung và nhờ bà tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T1 thay cho chị T. Bà đồng ý thay chị T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Ngô Minh T1 cho đến khi chị T về Việt Nam.
Tại phiên tòa bà Trần Thị B có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án chấp hành đúng theo quy định của BLTTDS. Bị đơn chị Vũ Thị T không chấp hành nghiêm quy định của bộ luật tố tụng dân sự, từ chối khai báo, tại phiên tòa vắng mặt lần hai không có lý do.
Đề nghị HĐXX: Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Điều 24, Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Ngô Quang L được ly hôn chị Vũ Thị T.
- Về con chung: Giao cho anh Ngô Quang L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Ngô Thị Ánh N, sinh ngày 22/11/2012. Giao con chung là Ngô Minh T1, sinh ngày 20/9/2010 cho chị Vũ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn anh Ngô Quang L và chị Vũ Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về tiền án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Ngô Quang L khởi kiện xin ly hôn với bị đơn chị Vũ Thị T hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, nơi cư trú trước khi xuất cảnh tại thôn V, xã T, tỉnh Bắc Giang (Nay là thôn V, xã T, tỉnh Bắc Ninh). Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh.
Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Ngô Quang L không cung cấp được địa chỉ của chị Vũ Thị T tại Đài Loan. Tòa án nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh đã yêu cầu anh L và gia đình chị T cung cấp địa chỉ, nhưng anh L và gia đình chị T không cung cấp được. Bà Trần Thị B là mẹ đẻ chị T xác định chị T vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, anh L có đơn xin ly hôn, chị T đã biết nhưng không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân Khu vực 4- Bắc Ninh tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa anh Ngô Quang L, bà Trần Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Vũ Thị T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Quang L và chị Vũ Thị T đăng ký kết hôn ngày 08/5/2009, tại Ủy ban nhân dân xã T, trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Cưới xong anh chị về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Anh chị chung sống đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm sống trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Năm 2016 chị T bỏ về nhà mẹ đẻ ở thôn N, xã M ở và đi làm ăn xa ở Đài Loan và từ đó không về nước, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau và đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Phía anh L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh L đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T. Phía chị T trong quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh L.
Hội đồng xét xử xét thấy anh L, chị T trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình. Anh chị xảy ra mâu thuẫn và hiện tại đã sống ly thân, không quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho nhau từ cuối năm 2016 đến nay. Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương, anh L, chị T sau khi kết hôn về chung sống tại thôn V, xã T. Hiện chị T bỏ về nhà mẹ đẻ tại thôn N, xã M ở sau đó đi nước ngoài và hiện nay anh chị đang sống ly thân. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh L và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Ngô Quang L được ly hôn chị Vũ Thị T.
[2.2] Về con chung: Anh Ngô Văn L1 và chị Vũ Thị T có hai con chung là Ngô Thị Ánh N, sinh ngày 22/11/2012 và Ngô Minh T1, sinh ngày 20/9/2010. Hiện hai con của anh chị khỏe mạnh phát triển bình thường, con N đang ở cùng anh L1, con T1 đang ở cùng bà ngoại từ khi anh chị sống ly thân đến nay. Quá trình giải quyết vụ án phía anh L1 có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Ngô Thị Ánh N khi vợ chồng ly hôn. Phía chị T không có văn bản đưa ra ý kiến quan điểm gì về con chung trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, có ý kiến của bà Trần Thị B, sinh năm 1957, địa chỉ thôn N, xã M, tỉnh Bắc Ninh là mẹ đẻ của chị Vũ Thị T được chị T gửi con khi đi xuất khẩu lao động và bà Trần Thị B đồng ý cam kết tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T1 cho đến khi chị T về nước. Lời khai của cháu T1 có nguyện vọng xin được ở cùng chị T và bà ngoại nếu bố mẹ ly hôn, lời khai của cháu N xin được ở cùng anh L1.
Để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của trẻ em, ổn định tâm lý của trẻ tránh cuộc sống bị sáo trộn cần giao cho anh Ngô Quang L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Ngô Thị Ánh N, sinh ngày 22/11/2012. Giao con chung là Ngô Minh T1, sinh ngày 20/9/2010 cho chị Vũ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Trong thời gian ở nước ngoài, tạm giao cháu T1 cho bà Trần Thị B chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị T về Việt Nam.
Việc giao mỗi người nuôi một con khi ly hôn để anh, chị có thể chăm sóc, giáo dục con đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần là phù hợp nguyện vọng các con chung của anh chị và phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình và quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con phía anh L không có yêu cầu, phía chị T không có ý kiến quan điểm nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Ngô Quang L và chị Vũ Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Ngô Quang L không có yêu cầu, phía chị Vũ Thị T không đưa ra ý kiến quan điểm gì, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc anh Ngô Quang L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003910 ngày 15/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 4- Bắc Ninh).
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[5] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Điều 24, Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- 1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Ngô Quang L được ly hôn chị Vũ Thị T.
- 2.Về con chung: Giao cho anh Ngô Quang L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Ngô Thị Ánh N, sinh ngày 22/11/2012. Giao con chung là Ngô Minh T1, sinh ngày 20/9/2010 cho chị Vũ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Sau khi ly hôn anh Ngô Quang L và chị Vũ Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.
- 3. Về án phí: Buộc anh Ngô Quang L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003910 ngày 15/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 4- Bắc Ninh). Xác nhận anh Ngô Quang L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- 4.Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn anh Ngô Quang L vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
- Bị đơn chị Vũ Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 93/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- BẮC NINH về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 93/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh L, chị Đ
