|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 92/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26 - 11- 2025 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng,
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Phạm Thanh Hải;
- - Bà Phạm Thị Nhung.
Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang tham gia phiên toà: Không.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 176/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/10/2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 419/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Khưu Tú A, sinh năm 1977; nơi cư trú: Khóm A, phường T, tỉnh An Giang; SĐT: 0974.855.xxx; (có đơn vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Trịnh Tuấn P, sinh năm 1974; nơi cư trú: Khóm A, phường T, tỉnh An Giang; SĐT: 0979.990.xxx; (có đơn vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Khưu Tú A trình bày: Chị và anh P tự tìm hiểu, đi đến hôn nhân vào năm 1997, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, dần về sau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không cùng quan điểm, không có tiếng nói chung, nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được chị yêu cầu được ly hôn với anh Trịnh Tuấn P.
Quá trình chung sống, chị và anh P có 03 con chung tên Trịnh Khả N sinh ngày 09/4/1999, Trịnh Ngọc Cát T sinh ngày 02/06/2006, hiện đã trưởng thành và con chung Trịnh Nhã K, sinh ngày 01/7/2013. Chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Trịnh Nhã K và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
Theo bản tự khai, bị đơn anh Trịnh Tuấn P trình bày: Thống nhất với chị Khưu Tú A về thời gian và điều kiện đi đến hôn nhân, anh và chị Tú A sống chung với nhau năm 1997, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, dần về sau thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không cùng quan điểm, không có tiếng nói chung, nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị Tú A yêu cầu ly hôn, anh đồng ý.
Quá trình chung sống, anh và chị Tú A có 03 con chung tên Trịnh Khả N sinh ngày 09/4/1999, Trịnh Ngọc Cát T sinh ngày 02/06/2006 (hiện cháu N và T đã trưởng thành) và con chung Trịnh Nhã K, sinh ngày 01/7/2013. Anh đồng ý để chị Tú Anh N1 dạy con chung, anh không cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn, bị đơn cư trú tại địa chỉ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019.
[2] Về nội dung:
[2.1] Vào năm 1997, chị Tú A và anh P tự tìm hiểu, quen biết nhau và tiến đến hôn nhân, không có đăng ký kết, điều này đã được chị Tú A và anh P thừa nhận, nên đây là chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2025; Hôn nhân giữa chị Tú A và anh P không được xem là hôn nhận hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nên, tuyên bố không công nhận chị Khưu Tú A và anh Trịnh Tuấn P là vợ chồng.
[2.2] Chị Khưu Tú A và anh Trịnh Tuấn P trong thời kì hôn nhân, có 03 con chung tên Trịnh Khả N sinh ngày 09/4/1999 và Trịnh Ngọc Cát T sinh ngày 02/06/2006, hiện cháu N và T đã trưởng thành, nên không xem xét giải quyết; đối với cháu Trịnh Nhã K, sinh ngày 01/7/2013, trên 07 tuổi, cháu K đang học lớp 7 và có bản tự khai có nguyện vọng được sống chung với chị Tú A; Nên chị Tú A yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung và không yêu cầu P cấp dưỡng nuôi con chung, và nhằm để đảm bảo sự phát triển về tâm lý cũng như ổn định cuộc sống cho cháu K, nên chấp nhận yêu cầu nuôi dạy con chung của chị Tú A là phù hợp với ý chí và nguyện vọng của cháu K; do chị Tú A không yêu cầu xem xét cấp dưỡng nuôi dạy con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Chị Khưu Tú A và anh Trịnh Tuấn P không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung; nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.4] Chị Khưu Tú A phải chịu 300,000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; anh Trịnh Tuấn P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều Điều 14, 53, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4, 6 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
Tuyên bố không công nhận chị Khưu Tú A và anh Trịnh Tuấn P là vợ chồng.
Chị Khưu Tú A được tiếp tục nuôi dạy con chung Trịnh Nhã K, sinh ngày 01/7/2013; anh Trịnh Tuấn P không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Chị Khưu Tú A cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trịnh Tuấn P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Chị Khưu Tú A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003395 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 – An Giang; chị A đã nộp đủ án phí.
Anh Trịnh Tuấn P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Chị Khưu Tú A và anh Trịnh Tuấn P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Hùng |
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tâm |
Bản án số 92/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 92/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khưu Tú A yêu cầu ly hôn với anh
