TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH Bản án số: 91/2025/HS-ST Ngày: 05/12/2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đức Tuấn;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Tuấn Anh;
2. Bà Vũ Thị Xuyến.
Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 14/11/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/HSST-QĐ ngày 26/11/2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Ngô Doãn D - tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 20 tháng 4 năm 1981 tại Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ĐKHKTT: Khu Q, phường Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: Lái xe ô tô tư nhân; trình độ văn hoá: lớp 6/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Ngô Doãn H - sinh năm 1953 và bà Lê Thị A - sinh năm 1953;
Có vợ là Nguyễn Thị Thanh H1 – sinh năm 1982 (đã ly hôn), có 3 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú ngày 26/5/2025, bị tạm giữ, tạm giam đến ngày 26/6/2025, được thay thế bằng biện pháp “Bảo lĩnh” từ ngày 26/6/2025 đến ngày 04/8/2025 và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 26/6/2025, hiện tại ngoại nơi cư trú - Có mặt.
- Họ và tên: Vũ Thị T - tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 16 tháng 9 năm 1969 tại Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ĐKHKTT: Khu Y, phường Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 1/7;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Vũ Văn Đ và bà Lê Thị X (đều đã chết).
Có chồng là Hà Quyết T1 (đã chết), có 2 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú ngày 26/5/2025, bị tạm giữ từ ngày 26/5/2025 đến ngày 04/6/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú - Có mặt.
- Họ và tên: Bùi Thành C - tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 28 tháng 10 năm 1987 tại Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ĐKHKTT: Tổ A, Khu N, phường V, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: Lái xe ô tô tư nhân; trình độ văn hoá: lớp 11/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Bùi Thành L – sinh năm 1959 và bà Phạm Thị T2 – sinh năm 1960.
Có vợ là Trần Hoài L1 sinh năm 1992 (đã ly hôn), có 1 con sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú ngày 26/5/2025, bị tạm giữ từ ngày 26/5/2025 đến ngày 04/6/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú - Có mặt.
- Họ và tên: Bùi Thị Ngọc H2 - tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 19 tháng 01 năm 1984 tại Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ĐKHKTT: Khu Q, phường Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Bùi Quang V – sinh năm 1946 và bà Đinh Thị H3 – sinh năm 1947.
Không có chồng; có 1 con sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú ngày 26/5/2025, bị tạm giữ từ ngày 26/5/2025 đến ngày 04/6/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú - Có mặt.
- Họ và tên: Đinh Phong C1 - tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1978 tại U, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ĐKHKTT: Khu T, phường V, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: lớp 7/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Đinh Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q – sinh năm 1952.
Có vợ là Hoàng Thị H4 – sinh năm 1986 (đã ly hôn), có 2 con, lớn sinh năm 2002; nhỏ sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú ngày 24/6/2025, bị tạm giữ từ ngày 24/6/2025 đến ngày 26/6/2025, được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú - Có mặt.
- Họ và tên: Vũ Việt K - tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 20 tháng 7 năm 1987 tại Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ĐKHKTT: Khu Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: lớp 9/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Vũ Văn D1 – sinh năm 1958 (đã chết) và bà Hoàng Thị G – sinh năm 1963.
Có vợ là Vũ Thị H5 – sinh năm 1992 (đã ly hôn), có 2 con, lớn sinh năm 2010; nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú ngày 24/6/2025, bị tạm giữ từ ngày 24/6/2025 đến ngày 26/6/2025, được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú - Có mặt.
- Họ và tên: Đặng Văn L2 - tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 05 tháng 7 năm 1975 tại Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư T, phường T, thành phố Hải Phòng.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Đặng Văn P – sinh năm 1932 và bà Vũ Thị T3 – sinh năm 1937 (đều đã chết).
Có vợ là Trần Thị N1 – sinh năm 1978, có 2 con, lớn sinh năm 1995; nhỏ sinh năm 1998.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú ngày 26/5/2025, bị tạm giữ từ ngày 26/5/2025 đến ngày 04/6/2025, được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú - Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn T4 - tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1982 tại U, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ĐKHKTT: Khu H, phường Y, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 5/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Văn T5 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S – sinh năm 1957.
Có vợ là Bế Thị Y – sinh năm 1983, có 3 con, lớn nhất sinh năm 2008; nhỏ nhất sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú ngày 26/5/2025, bị tạm giữ từ ngày 26/5/2025 đến ngày 04/6/2025, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú - Có mặt.
- Họ và tên: Phạm Thanh H6 - tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984 tại Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ĐKHKTT: Tổ 23A, Khu P, phường U, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Phạm Văn L3 – sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị H7 – sinh năm 1964.
Có vợ là Nguyễn Thị T6 – sinh năm 1988, có 3 con, lớn nhất sinh năm 2008; nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú ngày 23/6/2025, bị tạm giữ từ ngày 23/6/2025 đến ngày 26/6/2025, được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú - Có mặt.
- Họ và tên: Trần Mạnh H8 - tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 12 tháng 3 năm 1986 tại Q, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ĐKHKTT: Khu N, phường V, tỉnh Quảng Ninh.
Nghề nghiệp: lái xe ô tô tư nhân; trình độ văn hoá: lớp 12/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Trần Quang K1 – sinh năm 1961 và bà Đoàn Thị B – sinh năm 1961.
Có vợ là Tống Thị Thu H9 – sinh năm 1986 (đã ly hôn), có 2 con, lớn sinh năm 2007; nhỏ nhất sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú ngày 18/7/2025, bị tạm giữ từ ngày 18/7/2025 đến ngày 21/7/2025, được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại nơi cư trú - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút, ngày 26/5/2025, tại phường H, tỉnh Quảng Ninh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q tiến hành kiểm tra hành chính đối với Ngô Doãn D. Quá trình kiểm tra và làm việc, D tự nguyện xin đầu thú và khai nhận: Việc sử dụng tài khoản Zalo “Ngô Doãn D”, đăng ký bằng số điện thoại 0383.323.xxx để đánh bạc dưới hình thức mua, bán các số lô, số đề với Bùi Thành C, qua tài khoản Zalo “Em C 98” đăng ký bằng số điện thoại 0939.281.xxx; Phạm Thanh H6, qua tài khoản Zalo “Em Hoạt ĐM” đăng ký bằng số điện thoại 0345.167.xxx; Nguyễn Văn T4 qua tài khoản Zalo “Tuyến Vổ ĐM1” đăng ký bằng số điện thoại 0389.783.xxx; Đặng Văn L2, qua tài khoản Zalo “Anh L2 15” đăng ký bằng số điện thoại 0984.121.xxx; Đinh Phong C1, qua tài khoản Zalo “Anh Cầm ĐM” đăng ký bằng số điện thoại 0962.042.xxx; Vũ Việt K, qua tài khoản Zalo “Em Kiều xe 47” đăng ký bằng số điện thoại 0966.072.xxx; Vũ Thị T, qua tài khoản Zalo “Cô T” đăng ký bằng số điện thoại 0397.524.xxx; Cơ quan Điều tra tiến hành triệu tập ghi lời khai của C, H6, T4, L2, C1, K, T đều khai nhận hành vi đánh bạc với D. Ngoài ra, T còn khai mua số lô, số đề của D và một số người khác (không rõ lai lịch, địa chỉ) để chuyển bảng số lô, số đề cho Bùi Thị Ngọc H2, qua tài khoản Zalo đăng ký bằng số điện thoại 0394.114.xxx; Bùi Thành C còn bán các số lô, số đề cho Trần Mạnh H8 qua tài khoản Zalo “H” đăng ký bằng số điện thoại 0357.443.xxx;
Về cách thức đánh bạc được thống nhất, thực hiện như sau: Số lô, số đề bao gồm hai chữ số; “ba càng” gồm ba chữ số; số xiên hai, xiên 3, xiên 4 tương ứng là bộ hai số, ba số, bốn số lô. Người chơi đặt tiền cược trực tiếp vào số lô, số đề, xiên, số “ba càng” mình chọn. Riêng số lô sẽ đặt cược theo điểm, tương ứng 23.000đồng/01 điểm. So sánh với kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày để tính thắng thua, nếu số đề trùng với hai số cuối, số “ba càng” trùng ba số cuối của giải đặng biệt; số lô, các số trong bộ số xiên trùng với hai số cuối của tất cả các giải thì người chơi thắng cược. Nếu số lô trúng từ hai lần trở lên thì số tiền thắng cược được nhân tương ứng với số lần trúng. Từ đó sẽ trả cho người chơi số tiền tương ứng với 80 lần số tiền cược đề, 400 lần số tiền cược ba càng; 10, 40, 110 lần tương ứng với số tiền cược xiên hai, xiên ba, xiên bốn là 80.000đồng/01 điểm lô.
Ngày 09/6/2024, Phạm Thanh H6 nhắn tin cho D mua các số 53, 63 mỗi số 25 điểm x 23.000đồng/01 điểm = 1.150.000đ; Số đề 03: 100.000đồng; số đề 34, 43 mỗi số 50.000đồng, so sánh kết quả xổ số ngày 09/6/2024, H6 trúng số 53: 25 điểm x 2 lần trúng x 80.000đồng/điểm = 4.000.000đ. Tổng số tiền H6 đánh với D ngày 09/6/2024 là 5.350.000đồng.
Ngày 14/6/2024, Nguyễn Văn T4 nhắn tin cho D mua số lô 96: 50 điểm x 23.000đồng/01 điểm = 1.150.000đ; so sánh kết quả xổ số ngày 14/6/2024, T4 trúng số lô 95: 50 điểm x 80.000đồng/điểm = 4.000.000đ. Tổng số tiền T4 đánh với D ngày 14/6/2024 là 5.150.000đồng.
Ngày 19/6/2024, Đặng Văn L2 nhắn tin cho D mua số đề 67, 76, 74 mỗi số với số tiền 100.000đồng. So sánh kết quả xổ số ngày 19/6/2024, L2 trúng số đề 67: 100.000₫ x 80 lần = 8.000.000đ. Tổng số tiền L2 đánh với D ngày 19/6/2024 là 8.300.000đồng.
Ngày 01/7/2024, Đinh Phong C1 nhắn tin cho D mua lô số 57: 30 điểm x 23.000đồng/điểm = 690.000đ; Số đề và ba càng: 16, 18, 57, 31 và 116 mỗi số 100.000đồng, so sánh kết quả xổ số ngày 01/7/2024, Cầm trúng số đề 18: 100.000₫ x 80 lần = 8.000.000đ. Tổng số tiền C1 đánh với D ngày 01/7/2024 là 9.190.000đồng.
Ngày 14/10/2024, Vũ Việt K nhắn tin cho D mua số đề 03, 30 mỗi số 100.000đồng; số ba càng 403: 100.000đ, so sánh kết quả xổ số ngày 14/10/2024, Kiều trúng số đề 03: 100.000₫ x 80 lần= 8.000.000đ. Tổng số tiền K đánh với D ngày 14/10/2024 là 8.300.000đồng.
Cũng trong ngày 14/10/2024, D nhắn tin cho Vũ Thị T mua số đề 03, 30 mỗi số 100.000đồng; số ba càng 403: 100.000đ, so sánh kết quả xổ số ngày 14/10/2024, D trúng số đề 03: 100.000₫ x 80 lần= 8.000.000đ. Tổng số tiền D đánh với T ngày 14/10/2024 là 8.300.000đồng.
Ngày 09/3/2025, Bùi Thành C nhắn tin cho D mua các số lô 82, 83 mỗi số 50 điểm x 23.000đồng/điểm = 2.300.000đ; Số đề 82, 83 mỗi số 100.000đồng, so sánh kết quả xổ số ngày 09/3/2025, C trúng số lô 83: 50 điểm x 80.000đ/điểm = 4.000.000đ. Tổng số tiền C đánh với D ngày 09/3/2025 là 6.500.000đồng.
Ngày 21/5/2025, Trần Manh H10 nhắn tin cho Bùi Thành C mua số lô 79: 60 điểm x 23.000đồng/điểm = 1.380.000đ, so sánh kết quả xổ số ngày 21/5/2025, H10 trúng số lô 79: 60 điểm x 80.000đ/điểm = 4.800.000đồng. Tổng số tiền H10 đánh với C là 6.180.000đồng.
Ngày 22/5/2025, Vũ Thị T đã mua số lô, số đề của một số người không rõ lai lịch, địa chỉ và chuyển bảng số lô, số đề cho Bùi Thị Ngọc H2 gồm: số đề 61, 90, 82, 71 mỗi số 20.000đồng; số đề 98, 76 mỗi số 100.000đồng; số đề xiên 3: 41 - 01 - 60: 50.000đồng; số lô xiên 3: 46-70-11; 46-71-11; 70-71-11 mỗi bộ số 30.000đồng; số lô xiên 2: 70-71; 07-11; 71-11; 46-70; 46-07 mỗi cặp số 50.000đ; số lô 25, 52, 01, 10, 26, 62 mỗi số 5 điểm; số lô 07, 70, 71, 11, 46 mỗi số 10 điểm; số lô 98, 76 mỗi số 100 điểm; số lô 38, 74 mỗi số 50 điểm; số đề ba càng 798: 50.000đồng. Số lô T bán cho khách là 23.000đồng/01 điểm, T chuyển cho H2 là 22.000đồng/01 điểm, nếu trúng thưởng H2 vẫn trả cho T 80.000đồng/01 điểm; đối với số đề, 3 càng, lô xiên, cứ mỗi 100.000 đồng, H2 vẫn trả cho T 10.000 đồng, nếu trúng vẫn trả thưởng số tiền gấp 80 lần. Tổng số tiền T phải chuyển cho H2 là 9.080.000đ. Tuy nhiên trừ chi phí trả hoa hồng, thực tế T chỉ chuyển cho H2 9.008.000đ. So sánh kết quả xổ số trúng số lô 10: 5 điểm x 80.000đ/điểm = 400.000đồng; số lô 46: 10 điểm x 80.000đồng/điểm x 02 lần trúng = 1.600.000đ. Tổng số tiền T đánh bạc với Hồi ngày 22/5/2025 là 11.080.000đồng.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Ngô Doãn D, Vũ Thị T, Bùi Thành C, Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra H2 còn khai: Sau khi nhận bảng số lô, số đề của T thì H2 tiếp tục chuyển cho đối tượng khác (không rõ lai lịch, địa chỉ) qua ứng dụng Telegram. Việc giao nhận tiền thắng, thu giữa các bị cáo sau khi đối trừ tiền đánh được chuyển trực tiếp hoặc qua tài khoản ngân hàng, tuy nhiên do thời gian đã lâu, nên không nhớ cụ thể người chơi, số tiền đánh bạc và những ngày đánh bạc.
Về vật chứng, tài sản trong vụ án: 07 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo Ngô Doãn D, Vũ Thị T, Bùi Thành C, Bùi Thị Ngọc H2, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4 và Trần Mạnh H8, có quan điều tra đã chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Quảng Ninh để quản lý, bảo quản theo quy định; Đối với 01 bảng ghi số lô, số đề thu được của Bùi Thị Ngọc H2 chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSKV2 ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh truy tố các bị cáo Ngô Doãn D, Vũ Thị T, Bùi Thành C, Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa các bị cáo Ngô Doãn D, Vũ Thị T, Bùi Thành C, Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 khai nhận tương tự quá trình điều tra, thừa nhận bị truy tố đúng người, đúng tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Doãn D từ 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng); Xử phạt bị cáo Vũ Thị T và bị cáo Bùi Thành C mỗi bị cáo từ 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 mỗi bị cáo từ 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Áp dụng điểm d Khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” đối với tất cả các bị cáo;
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn T4 phải nộp số tiền là 4.000.000đ, bị cáo Bùi Thành C nộp số tiền 4.000.000đ; Đặng Văn L2 nộp số tiền 8.000.000đ, Phạm Thanh H6 nộp số tiền 4.000.000đ, Đinh Phong C1 nộp số tiền 8.000.000đ, Vũ Việt K nộp số tiền 8.000.000đ; Ngô Doãn D nộp số tiền 8.000.000đ, Trần Mạnh H8 nộp số tiền 4.800.000đ; Bùi Thị Ngọc H2 nộp số tiền 199.100đ và Vũ Thị T nộp số tiền 452.000đ sung vào ngân sách nhà nước.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno11 F 5G, vỏ màu xanh thu giữ của Ngô Doãn D, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A58, vỏ màu đen, thu giữ của Bùi Thành C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno Z, vỏ màu xanh- của Vũ Thị T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Promax, vỏ màu xanh thu giữ của Bùi Thị Ngọc H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Glaxy M21 thu giữ của Đặng Văn L2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C21Y thu giữ của Nguyễn Văn T4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu xám thu giữ của Trần Mạnh H8.
Tịch thu tiêu hủy: Các sim thu giữ kèm theo điện thoại.
Các bị cáo không tranh luận, chỉ trình bày việc các bị cáo có thu nhập, có đủ khả năng chấp hành hình phạt tiền như Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, mong Hội đồng xét xử xem xét.
Các bị cáo không đề nghị gì thêm khi được nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình tiến hành tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; các chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp.
[2] Xét lời khai của các bị cáo Ngô Doãn D, Vũ Thị T, Bùi Thành C, Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc các ngày 14/6/2024; 09/6/2024; 19/6/2024; 01/7/2024; 14/10/2024; 09/3/2025; 21/5/2025; 22/5/2025; 26/5/2025; Biên bản kiểm tra hành chính, Biên bản kiểm tra điện thoại; nội dung các tin nhắn Zalo liên quan đến việc trao đổi, giao dịch đặt cược các số lô, số đề giữa các bị cáo và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thấy có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 09/6/2024 đến ngày 26/5/2025, trên địa bàn các phường Đ, H, Q thuộc tỉnh Quảng Ninh, các bị cáo Ngô Doãn D, Vũ Thị T, Bùi Thành C, Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua, bán các số lô, số đề, trong đó:
- Ngày 09/6/2024 Ngô Doãn D và Phạm Thanh H6 đánh bạc với tổng số tiền là 5.350.000 đồng; số tiền H6 đã đặt cược là 1.350.000đ, H6 thắng bạc với số tiền là 4.000.000đ. Số tiền thu lợi bất chính là 2.650.000đ.
- Ngày 14/6/2024 Ngô Doãn D và Nguyễn Văn T4 đánh bạc với tổng số tiền là 5.150.000 đồng; số tiền Tuyến đặt cược là 1.150.000đ; T4 thắng bạc với số tiền là 4.000.000đ. Số tiền thu lợi bất chính là 2.850.000đ;
- Ngày 19/6/2025 Ngô Doãn D và Đặng Văn L2 đánh bạc với tổng số tiền là 8.300.000 đồng; số tiền L2 đặt cược là 300.000đ; L2 thắng bạc với tổng số tiền là 8.000.000đ. Số tiền thu lợi bất chính 7.700.000đ;
- Ngày 01/7/2024 Ngô Doãn D và Đinh Phong C1 đánh bạc với tổng số tiền là 9.190.000 đồng; số tiền Cầm đặt cược là 1.190.000đ; C1 thắng bạc với tổng số tiền là 8.000.000đ. Số tiền thu lợi bất chính là 6.810.000đ;
- Ngày 14/10/2024 Ngô Doãn D và Vũ Việt K đánh bạc với tổng số tiền là 8.300.000 đồng; số tiền K đặt cược là 300.000đ, K thắng bạc với tổng số tiền là 8.000.000. Số tiền thu lợi bất chính 7.700.000đ;
- Ngày 14/10/2024 Vũ Thị T và Ngô Doãn D đánh bạc với tổng số tiền là 8.300.000 đồng; số tiền D đặt cược là 300.000đ, D thắng bạc với tổng số tiền là 8.000.000. Số tiền thu lợi bất chính 7.700.000đ;
- Ngày 09/3/2025 Ngô Doãn D và Bùi Thành C đánh bạc với tổng số tiền là 6.500.000 đồng; số tiền C đặt cược là 2.500.000đ, C thắng bạc với số tiền là 4.000.000đ. Số tiền thu lợi bất chính là 1.500.000đ;
- Ngày 21/5/2025 Bùi Thành C và Trần Mạnh H8 đánh bạc với tổng số tiền là 6.180.000 đồng; số tiền H8 đặt cược là 1.380.000đ; H8 thắng bạc với số tiền là 4.800.000đ. Số tiền thu lợi bất chính là 3.420.000đ;
- Ngày 22/5/2025 Vũ Thị T và Bùi Thị Ngọc H2 đánh bạc với tổng số tiền là 11.080.000 đồng; trong đó T chuyển tiền đặt cược theo bảng số lô, số đề đã nhận của khách cho H2 được hưởng tỉ lệ % theo cam kết và đã thu lợi bất chính số tiền 452.000đ. Hồi nhận bảng số lô, số đề từ T để chuyển cho đối tượng có tên lưu trong danh bạ điện thoại là “anh Thanh H11” không rõ lai lịch, địa chỉ và được hưởng tỉ lệ % theo cam kết và đã thu lợi bất chính số tiền 199.100đ;
[3] Hành vi nêu trên của các bị cáo Ngô Doãn D, Vũ Thị T, Bùi Thành C, Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 đã phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định như sau:
"1. Người nào đánh bạc trái phép dười bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc có hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
Do đó Cáo trạng số 08/CT-VKSKV2 ngày 29/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Về vai trò của các bị cáo:
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, nên được áp dụng Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự quy định về đồng phạm để phân hóa vai trò của các bị cáo khi lượng hình và mỗi bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện.
Trong đó bị cáo Ngô Doãn D đánh bạc 7 lần với tổng số tiền là 50.590.000đ; bị cáo Vũ Thị T đánh bạc 02 lần với tổng số tiền là 19.160.000đ; bị cáo Bùi Thành C đánh bạc 02 lần với tổng số tiền là 12.680.000đ.
Xét bị cáo Ngô Doãn D tham gia đánh bạc nhiều lần với số lần và số tiền lớn nhất nên giữ vai trò đầu vụ.
Tiếp theo là bị cáo Vũ Thị T, bị cáo đã mua số lô, số đề của Ngô Doãn D và nhiều đối tượng khác không rõ lai lịch, sau đó chuyển lại bảng số lô, số đề cho Bùi Thị Ngọc H2 kiếm lời, nên có vai trò sau bị cáo D.
Bị cáo Bùi Thành C đã 02 lần đánh bạc lô, đề với Ngô Doãn D và Trần Mạnh H8 với tổng số tiền là 12.680.000đ nên có vai trò tiếp sau bị cáo T.
Bị cáo Bùi Thị Ngọc H2 01 lần nhận bảng số lô, số đề từ bị cáo T với tổng số tiền là 11.080.000 đồng, sau đó chuyển lại cho đối tượng khác không rõ lai lịch để kiếm lời. Do đó bị cáo H2 giữ vai trò sau bị cáo C.
Các bị cáo còn lại gồm Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 tham gia đánh bạc 1 lần với số tiền đánh bạc từ 5.150.000 đồng đến 9.190.000 đồng, nên có vai trò sau cùng và tương đương nhau.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Ngô Doãn D đánh bạc 7 lần với tổng số tiền là 50.590.000đ; bị cáo Vũ Thị T đánh bạc 02 lần với tổng số tiền là 19.160.000đ; bị cáo Bùi Thành C đánh bạc 02 lần với tổng số tiền là 12.680.000đ, mỗi lần đánh bạc của các bị cáo đều với số tiền trên 5.000.000đ, nên thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Ngô Doãn D, Vũ Thị T, Bùi Thành C, Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đến Cơ quan Công an đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Bùi Thị Ngọc H2 có bố đẻ là ông Bùi Quang V là người có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhì nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Riêng các bị cáo Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được tác hại của tệ nạn cờ bạc, nhưng do thiếu ý thức tôn trọng pháp luật, tham gia đánh bạc nhằm thu lợi trái phép. Hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên cũng xét các bị cáo đều là lao động phổ thông, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có thu nhập, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện, thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà có thể áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung
Xét các bị cáo đã bị áp dụng phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra đã thu giữ 07 chiếc điện thoại gồm:
- 01 điện thoại OPPO Reno11 F 5G của Ngô Doãn D; khe 1 gắn sim số 0383323168; khe 2 gắn sim số 0792041981;
- 01 điện thoại OPPO Reno vỏ màu xanh đen của Vũ Thị T; gắn sim số 0397.524.556;
- 01 điện thoại OPPO A58 màu đen của Bùi Thành C; gắn sim số 0393.281.087;
- 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu xanh của Bùi Thị Ngọc H2; gắn sim số 0934.114.345;
- 01 điện thoại Samsung Galaxy M21 của Đặng Văn L2; khe 1 gắn sim số 0986.502.919; khe 2 gắn sim số 0984.121.559;
- 01 điện thoại Realme C21Y màu xám của Nguyễn Văn T4; khe 1 gắn sim số 0389.783.119; khe 2 gắn sim số 0967.048.540;
- 01 điện thoại Iphone 7 Plus đã cũ của Trần Mạnh H8; gắn sim số 0357.443.114.
Các bị cáo sử dụng các điện thoại nêu trên vào việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
Đối với các sim gắn kèm theo các điện thoại, cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với số tiền các bị cáo đánh bạc, thắng bạc được xác định là sử dụng vào việc phạm tội, thu lời bất chính cần truy thu, sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:
Bị cáo Phạm Thanh H6 tổng số tiền 4.000.000đ; bị cáo Nguyễn Văn T4 tổng số tiền 4.000.000đ; bị cáo Đặng Văn L2 tổng số tiền 8.000.000đ; bị cáo Đinh Phong C1 tổng số tiền 8.000.000đ; bị cáo Vũ Việt K tổng số tiền 8.000.000đ; bị cáo Ngô Doãn D tổng số tiền 8.000.000đ; bị cáo Bùi Thành C tổng số tiền 4.000.000đ; bị cáo Trần Mạnh H8 tổng số tiền 4.800.000đ; bị cáo Vũ Thị T tổng số tiền 452.000đ; bị cáo Bùi Thị Ngọc H2 tổng số tiền 199.100đ.
[10] Các vấn đề khác:
Quá trình điều tra, Bùi Thành C khai ông Bùi Thành L – sinh năm 1959, trú tại phường M, tỉnh Quảng Ninh (là bố đẻ của C) – C có thống nhất sau khi nhận các bảng số lô, số đề hàng ngày sẽ tổng hợp lại rồi chuyển lại cho ông L. Tuy nhiên cơ quan điều tra xác định C chưa chuyển cho ông L, nên không đề cập xử lý.
Đối với hành vi đánh bạc của Bùi Ngọc H2 và Vũ Thị T ngày 26/5/2025 với tổng số tiền dưới 5.000.000đ, trước đó T và H2 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa bị xử phạt về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc theo quy định tại Điều 321, 322 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an tỉnh Q để xử phạt hành chính.
Đối với đối tượng nhận bảng số lô, số đề từ bị cáo Bùi Thị Ngọc H2 tham gia đánh bạc có tên trong danh bạ điện thoại của H2 là “Anh Thanh H11”, sử dụng số điện thoại 0383.484.xxx để liên hệ thực hiện tội phạm, cơ quan điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ nên không đề cập giải quyết.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Doãn D, Vũ Thị T, Bùi Thành C, Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Ngô Doãn D 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Vũ Thị Tuyết 2 (Hai mươi lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Bùi Thành C 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Bùi Thị Ngọc H2 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đinh Phong C1 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Vũ Việt K 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đặng Văn L2 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2017:
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H6 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H8 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 07 (bảy) chiếc điện thoại di động gồm: 01 (một) điện thoại OPPO Reno11 F 5G của Ngô Doãn D; 01 (một) điện thoại OPPO Reno vỏ màu xanh đen của Vũ Thị T; 01(một) điện thoại OPPO A58 màu đen của Bùi Thành C; 01(một) điện thoại Iphone 15 Promax màu xanh của Bùi Thị Ngọc H2; 01(một) điện thoại Samsung Galaxy M21 của Đặng Văn L2; 01(một) điện thoại Realme C21Y màu xám của Nguyễn Văn T4; 01(một) điện thoại Iphone 7 Plus đã cũ của Trần Mạnh H8;
- Tịch thu tiêu hủy các sim gắn kèm theo các điện thoại thu được của các bị cáo gồm: Sim số 0383323168 và 0792041981 của Ngô Doãn D; Sim số 0397.524.556 của Vũ Thị T; Sim số 0393.281.087 của Bùi Thành C; Sim số 0934.114.345 của Bùi Thị Ngọc H2; Sim số 0986.502.919 và 0984.121.559 của Đặng Văn L2; Sim số 0389.783.119 và 0967.048.540 của Nguyễn Văn T4; Sim số 0357.443.114 của Trần Mạnh H8;
(Tình trạng số vật chứng nêu trên thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12/THADS-KV2 ngày 04/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Ninh).
- Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền sử dụng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có, cụ thể như sau:
- Bị cáo Phạm Thanh H6 số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng);
- Bị cáo Nguyễn Văn T4 số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng);
- Bị cáo Đặng Văn L2 số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng);
- Bị cáo Đinh Phong C1 số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng);
- Bị cáo Vũ Việt K số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng);
- Bị cáo Ngô Doãn D số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng);
- Bị cáo Bùi Thành C số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng);
- Bị cáo Trần Mạnh H8 số tiền 4.800.000₫ (Bốn triệu, tám trăm nghìn đồng);
- Bị cáo Vũ Thị T số tiền 452.000₫ (Bốn trăm năm mươi hai nghìn đồng);
- Bị cáo Bùi Thị Ngọc H2 số tiền 199.100đ (Một trăm chín mươi chín nghìn, một trăm đồng);
- Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Ngô Doãn D, Vũ Thị T, Bùi Thành C, Bùi Thị Ngọc H2, Đinh Phong C1, Vũ Việt K, Đặng Văn L2, Nguyễn Văn T4, Phạm Thanh H6 và Trần Mạnh H8 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đức Tuấn |
Bản án số 91/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH về tội đánh bạc (hình sự)
- Số bản án: 91/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Doãn D CĐP - phạm tội đánh bạc
