|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 91/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2025 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Khắc Quế
- Bà Lê Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Vương Khả Nhật Thành- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 184/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2025.
+ Nguyên đơn: Bà Lâm Thị V, sinh năm 1972; Địa chỉ: Đường Đ, tổ dân phố Á, Phường C B, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị vắng mặt.
+ Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Đường Đ, tổ dân phố Á, Phường C B, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 02/5/2025 và những lời trình bày của nguyên đơn bà Lâm Thị V thể hiện như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Gia đình bà Lâm Thị V và ông Trần Văn H ở gần nhà nhau nên quen biết vì vậy gia đình hai bên có đặt vấn đề về chuyện tổ chức lễ cưới cho bà V và ông H. Mặc dù giữa bà V và ông H cũng chưa gặp mặt nên không có sự tìm hiểu nhau, chủ yếu do gia đình hai bên tự nói chuyện. Từ lúc gia đình ông H qua nhà nói chuyện đến lúc cưới chỉ khoảng 01 tháng. Do thời điểm đó bà V còn nhỏ nên
cũng không có ý kiến phản đối gì. Đến tháng 08/1995 gia đình hai bên tổ chức lễ cưới cho bà V, ông H theo phong tục địa phương. Ngày 15/8/1995 bà V và ông H đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H (sau này được đổi thành huyện T), tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình).
Ngay sau khi chung sống ông H đã thường xuyên gây sự đánh bà vô cớ, sự việc cứ lặp đi lặp lại như vậy nhiều lần, gia đình ông H cũng can ngăn, chính quyền địa phương cũng nhắc nhở, bản thân ông H cũng đã nhiều lần hứa và làm cam kết nhưng không thay đổi. Ngoài việc đánh đập bà thì ông H cũng không phụ giúp gì về kinh tế để lo cho gia đình, cũng không phụ giúp chăm sóc con cái, nhà cửa, ông H làm được bao nhiêu tiền thì dùng để uống rượu và đi chơi cùng bạn bè hết, khi nào hết tiền thì lại yêu cầu bà đưa tiền để đi tiêu sài. Bà cũng nhiều lần nhắc nhở nhưng ông H không thay đổi gì. Khoảng năm 2018 do không thể chung sống cùng ông H nên bà và các con đi ở nhờ nhà hàng xóm được khoảng 05 năm thì mẹ con làm được căn nhà tạm để ở nhưng ông H vẫn thường xuyên gây sự chửi bới mẹ con bà.
Nay bà nhận thấy không còn tình cảm gì với ông H, bà cũng không có nhu cầu hàn gắn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà và ông H được ly hôn.
- Về con chung: Bà Lâm Thị V và ông Trần Văn H có 05 con chung là Trần Thị H1, sinh ngày 14/9/1996; Trần Thị H2, sinh ngày 16/10/2000; Trần Huy H3, sinh ngày 01/02/2003; Trần Lâm Thùy T, sinh ngày 10/11/2005 và Trần Lâm Bảo T1, sinh ngày 08/7/2013. Hiện cháu H1, cháu H2 và cháu T đã lập gia đình, ở riêng, còn cháu H3 đang sống cùng bà. Đối với cháu T1 đã mất năm 2024.
Do các con chung đã thành niên, khỏe mạnh, phát triển bình thường, không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng theo quy định nên bà Lâm Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Lâm Thị V tự thỏa thuận với ông Trần Văn H.
- Về nợ chung: Bà Lâm Thị V cam kết vợ chồng không vay nợ chung ai.
Bị đơn ông Trần Văn H không đến Tòa án làm việc, không gửi bản tự khai nên không có ý kiến trình bày.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.
- Nguyên đơn bà Lâm Thị V có đơn đề nghị vắng mặt.
- Bị đơn ông Trần Văn H không có mặt mặc dù đã được Toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, cũng không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng đã phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ
2
khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật TTDS.
- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lâm Thị V về việc ly hôn với ông Trần Văn H. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không đề cập đến.
Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Trần Văn H cư trú tại Phường C B, tỉnh Lâm Đồng, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Lâm Thị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Văn H vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị V và ông Trần Văn H chung sống với nhau từ năm 1999, việc chung sống là tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H (sau này được đổi thành huyện T), tỉnh Nam Định (nay là xã N, tỉnh Ninh Bình) ngày 15/8/1995. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Bà Lâm Thị V cho rằng ngay sau khi chung sống ông H đã thường xuyên gây sự, đánh đập bà vô cớ, bà đã nhiều lần nói chuyện cũng như gia đình khuyên bảo, chính quyền địa phương nhắc nhở nhưng ông H không thay đổi. Ngoài ra ông H cũng không phụ giúp bà lo kinh tế trong gia đình và chăm sóc con cái vì vậy từ năm 2018 bà và ông H đã sống ly thân cho đến nay vì vậy bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn H.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Trần Văn H nhiều lần để tác động, hòa giải nhưng ông Trần Văn H vẫn cố tình vắng mặt, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, qua xác minh tại chính quyền địa phương và người thân thì thấy rằng giữa bà Lâm Thị V, ông Trần Văn H có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách nên bà Lâm Thị V và ông Trần Văn H không còn chung sống cùng nhau từ năm 2024 đến nay. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân
3
giữa bà Lâm Thị V và ông Trần Văn H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà L Thị Vải và ông Trần Văn H được ly hôn là có cơ sở và đúng pháp luật.
[3.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Qua tài liệu, chứng cứ do bà Lâm Thị V xuất trình trong hồ sơ vụ án xác định giữa bà Lâm Thị V và ông Trần Văn H có 05 con chung là Trần Thị H1, sinh ngày 14/9/1996; Trần Thị H2, sinh ngày 16/10/2000; Trần Huy H3, sinh ngày 01/02/2003; Trần Lâm Thùy T, sinh ngày 10/11/2005 và Trần Lâm Bảo T1, sinh ngày 08/7/2013. Hội đồng xét xử xét thấy rằng các con chung của bà Lâm Thị V và ông Trần Văn H đã thành niên, không thuộc trường hợp cấp dưỡng theo quy định nên không xem xét giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lâm Thị V và ông Trần Văn H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc Bà Lâm Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị V đối với ông Trần Văn H.
- Về án phí: Buộc bà Lâm Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà Lâm Thị V đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0000793 ngày 06/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4), tỉnh Lâm Đồng.
Cho bà Lâm Thị V ly hôn với ông Trần Văn H.
4
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hòa |
5
6
7
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
8
9
Bản án số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 91/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà V yêu cầu ly hôn với ông H
