Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 14 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 11-2025

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng,

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Phạm Thanh Hải;
  • - Bà Phạm Thị Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – An Giang tham gia phiên toà: Không.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 189/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025, về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 420/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Tấn T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường C, tỉnh An Giang; (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Hồ Thị V, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ C, khóm I, phường C, tỉnh An Giang; (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Tấn T trình bày: Anh T và chị Văn T1 tìm hiểu, đi đến hôn nhân năm 2007, không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dù hai vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng lớn, nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh T yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Hồ Thị V.

Quá trình chung sống, anh T và chị V có 01 con chung tên Lê Thị Các N, sinh ngày 05/05/2008. Hiện con chung do chị V nuôi dưỡng; Khi ly hôn anh nhường quyền nuôi con chung cho chị V và anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Theo bản tự khai, bị đơn chị Hồ Thị V trình bày: Thống nhất với anh Lê Tấn T, chị và anh T tự tìm hiểu, đi đến hôn nhân năm 2007, không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dù hai vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng lớn, nhận thấy tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay anh T yêu cầu ly hôn, chị đồng ý.

Quá trình chung sống, chị và anh T có 01 con chung tên Lê Thị Các N, sinh ngày 05/05/2008. Hiện con chung do chị V nuôi dưỡng; Khi ly hôn chị V yêu cầu nuôi dạy con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn, bị đơn cư trú tại địa chỉ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019.

[2] Về nội dung:

[2.1] Vào năm 2007, anh T và chị Văn T1 tìm hiểu, quen biết nhau và tiến đến hôn nhân, không có đăng ký kết, điều này đã được anh T và chị V thừa nhận, nên đây là chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2025; nên hôn nhân giữa anh T và chị V không được xem là hôn nhân hợp pháp, không được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Nên, tuyên bố không công nhận anh Lê Tấn T và chị Hồ Thị V là vợ chồng.

[2.2] Anh Lê Tấn T và chị Hồ Thị V trong thời kì hôn nhân, có con chung 01 con chung tên Lê Thị Các N, sinh ngày 05/05/2008. Hiện con chung do chị V nuôi dưỡng; Khi ly hôn chị V yêu cầu nuôi dạy con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi dạy con chung, cháu N đang học lớp 12 và có bản tự khai có nguyện vọng được sống chung với chị V; Nên chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, nhằm để đảm bảo sự phát triển về tâm lý cũng như ổn định cuộc sống cho cháu N, nên chấp nhận yêu cầu nuôi dạy con chung của chị V là phù hợp với ý chí và nguyện vọng của cháu N; do chị V không yêu cầu xem xét cấp dưỡng nuôi dạy con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.3] Anh Lê Tấn T và chị Hồ Thị V không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung; nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.4] Anh Lê Tấn T phải chịu 300,000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; chị Hồ Thị V không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều Điều 14, 53, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4, 6 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Tuyên bố không công nhận anh Lê Tấn T và chị Hồ Thị V là vợ chồng.

Chị Hồ Thị V được tiếp tục nuôi dạy con chung Lê Thị Các N, sinh ngày 05/05/2008; anh Lê Tấn T không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Chị Hồ Thị V cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Tấn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Anh Lê Tấn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003944 ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 – An Giang; anh T đã nộp đủ án phí.

Chị Hồ Thị V không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Anh Lê Tấn T và chị Hồ Thị V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 14 – An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 14 – An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thanh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 91/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Tấn T yêu cầu ly hôn với
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger