Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HS-ST

Ngày: 03-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Mây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành và ông Đàm Chí Thân

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Dũng - Thư ký viên Toà án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trần Văn T, tên gọi khác: không có; sinh ngày 03 tháng 6 năm 1993 tại phường L, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu phố L, phường L, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Lê Thị T2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn H, tên gọi khác: không có; sinh ngày 04 tháng 01 năm 1990 tại phường L, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu phố L, phường L, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Vũ Thị P; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
  3. Họ và tên: Trần Văn T3, tên gọi khác: không có; sinh ngày 05 tháng 9 năm 1988 tại phường L, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu phố L, phường L, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T4 và bà Hoàng Thị P1; có vợ là Bàn Thị N (đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn D, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Trần Văn T3 có quan hệ quen biết. Thông qua bạn bè xã hội, T biết đối tượng Nguyễn Văn M có ma tuý Methamphetamine (còn gọi là ma túy "đá") bán. Khoảng 20 giờ ngày 25 tháng 3 năm 2025, T có nhu cầu sử dụng ma túy nên gọi điện qua ứng dụng Facebook Messenger cho M hỏi mua 01 túi ma tuý "đá", M đồng ý, cho số tài khoản và bảo Toàn chuyển tiền trước, T đã chuyển khoản 800.000 đồng tiền mua ma tuý qua số tài khoản ngân hàng cho M. M bảo Toàn liên hệ với H, H biết chỗ M giấu ma tuý. T liền gọi cho H nói đã mua được ma tuý của M, rủ H đi lấy để cả hai cùng sử dụng, H đồng ý. Trước khi đi T mang theo 01 ống hút nhựa, 01 ống thủy tinh có bầu tròn rồi điều khiển xe mô tô đi đón H, khi đón được H, H chỉ dẫn T đi đến khu vực đoạn đường đê dưới gầm cầu S thuộc phường L, tỉnh Quảng Ninh, M thường giấu ma tuý ở khu vực đó. Trên đường đi T dừng xe vào quán tạp hóa mua 02 chai nước lọc và 02 chai nước ngọt. Khi đến nơi H bảo Toàn dừng xe, H đi xuống khu vực bờ đê quan sát rồi nhặt 01 túi nilon chứa ma tuý "đá" đưa cho T. Cả hai đi đến khu vực bờ đê đường C thuộc phường L, tỉnh Quảng Ninh thì dừng xe. T nói với H "hai anh em dừng lại chơi" (ý là rủ H sử dụng ma túy "đá" tại đây), H đồng ý. T lấy vỏ chai nước và dụng cụ mang theo gắn, lắp, chế thành bộ sử dụng ma tuý "đá" hoàn chỉnh, lấy túi ma túy "đá" vừa mua đổ một phần vào bầu ống thủy tinh, số ma túy còn lại T đút vào túi quần, rồi T lấy bật lửa ga bật đốt hơ bầu thuỷ tinh để ma tuý bốc khói rồi dùng miệng hút ma túy vào cơ thể. T hút xong lại đốt cho H sử dụng như cách của T, mỗi người hút 01 lần. Lúc này H bảo Toàn đi đến nhà T3, rủ T3 sử dụng ma tuý tại nhà cho kín đáo, an toàn, T đồng ý. H gọi điện thoại báo cho T3, T3 đồng ý bảo đến luôn. H tháo nắp chai có gắn ống thủy tinh trong bầu tròn vẫn còn ma tuý "đá" và ống hút cất đi, còn vỏ chai nước thì T vứt tại nơi vừa sử dụng.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T và H đến nhà T3 ở thôn D, xã L, thị xã Q (nay là khu phố D, phường L), tỉnh Quảng Ninh. T3 mở cửa dẫn T và H vào phòng ngủ của mình rồi T3 lấy 01 vỏ chai chanh muối, bên trong có sẵn nước lọc đưa cho H. H bỏ dụng cụ ma tuý vừa sử dụng trước đó ra lắp ráp vào vỏ chai chanh muối tạo thành bộ sử dụng ma túy "đá". T lấy bật lửa ga bật đốt ma túy "đá" có sẵn trong bầu thủy tinh hút trước; sau đó lần lượt T3, Hà hút, cả ba thay nhau sử dụng hết số ma tuý trong bầu thuỷ tinh; T lấy gói ma túy còn lại đưa cho H, H đổ hết ma túy vào bầu tròn thuỷ tinh, cả ba tiếp tục tự đốt và sử dụng thêm 2-3 lượt, đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì hết số ma tuý thì T và H đi về.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, Công an xã L kiểm tra hành chính nơi ở của Nguyễn Văn D, phát hiện 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 bật lửa và 01 túi nilon có dính chất tinh thể màu trắng, kết quả giám định xác định là ma tuý loại Methamphetamine. D khai số ma túy này do mua thông qua Trần Văn T. Cơ quan điều tra triệu tập T; T khai nhận đã liên hệ với M để D mua ma túy và trước đó có cùng H và T3 tổ chức sử dụng ma túy như nội dung đã nêu.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, Cơ quan điều tra tiến hành bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Văn T, Nguyễn Văn H và Trần Văn T3. Thu giữ của H 01 điện thoại di động Oppo vỏ màu xanh gắn sim số 0364.680.660; của T3 01 điện thoại di động Oppo, mặt sau bị nứt vỡ, vỏ màu xanh gắn sim số 0967.009.028.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường: tại khu vực bờ đê đường C thuộc phường L, tỉnh Quảng Ninh, thu giữ 01 vỏ chai nhựa màu xanh nhãn hiệu AVIA 3A; tại nhà T3 ở khu phố D, phường L, tỉnh Quảng Ninh, thu giữ tại phòng ngủ 01 vỏ chai nhựa màu trắng nắp chai màu xanh; 01 bật lửa màu trắng.

Tại Kết luận giám định số: 325/KL-KTHS và 327/KL-KTHS cùng ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Văn D, Trần Văn T, Nguyễn Văn H và Trần Văn T3. Cặn màu nâu dạng vết trong 01 ống thuỷ tinh một đầu có bầu tròn, chất màu trắng dạng vết trong 01 túi nilon thu giữ của Nguyễn Văn D là ma tuý loại Methamphetamine dạng vết không xác định được khối lượng.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. Ngoài ra, bị cáo T còn khai: khoảng 01 giờ ngày 26 tháng 3 năm 2025, Nguyễn Văn D gọi điện nhờ T mua hộ 300.000 đồng ma túy "đá", T đồng ý và gọi điện cho M hỏi mua, M đồng ý, bảo D chuyển khoản tiền mua ma túy cho M. Sau khi D chuyển tiền, M bảo Toàn đến lấy túi ma túy ở khu vực bờ đê gầm cầu S 2 mang về cho D. Việc T mua hộ ma túy cho D là do có quan hệ bạn bè thân thiết nên khi D nhờ T mua hộ, T không được hưởng lợi gì, cũng không bàn bạc thống nhất gì với M, việc D sử dụng ma túy như thế nào, T cũng không biết và không sử dụng cùng. Bị cáo H còn khai: H và M có quen biết nhau; trước đó H đã 02 lần mua ma túy của M (không nhớ cụ thể thời gian, số tiền) nên biết cách thức M giao dịch và địa điểm M cất giấu ma túy.

Vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, 01 bật lửa ga nhãn hiệu Hoa Việt, 01 túi nilon kích thước (1,5 x 1,7)cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng thu giữ của D nêu trên; 01 điện thoại di động Oppo vỏ màu xanh gắn sim số 0364.680.660 thu của H; 01 điện thoại di động Oppo, mặt sau bị nứt vỡ, vỏ màu xanh gắn sim số 0967.009.028 và 01 vỏ chai nhựa màu trắng nắp chai màu xanh, 01 bật lửa màu trắng thu của T3; 01 vỏ chai nhựa màu xanh nhãn hiệu AVIA 3A thu tại nơi T và H sử dụng ma tuý, chuyển Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Ninh để chờ xử lý theo quy định.

Tại Cáo trạng số: 09/CT- VKSKV2 ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Ninh truy tố các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Văn T3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Ninh tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2025. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2025. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn T3 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2025. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 327/K1-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 bật lửa ga nhãn hiệu Hoa Việt; 01 chai nhựa nắp màu xanh, nắp chai có 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu xanh, 01 ống hút nhựa màu vàng gắn phía dưới ống thủy tinh; 01 vỏ chai nhựa màu trắng nắp chai màu xanh; 01 bật lửa màu trắng; 01 vỏ chai nhựa màu xanh nhãn hiệu AVIA 3A; 02 sim điện thoại trong 02 chiếc điện thoại Oppo; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo vỏ màu xanh (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động Oppo, mặt sau bị nứt vỡ, vỏ màu xanh (đã qua sử dụng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, các bị cáo không khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều hợp pháp và có giá trị sử dụng trong việc giải quyết vụ án.

[2] Về tội danh:

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, với Biên bản kiểm tra hành chính, Biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 20 giờ ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại khu vực bờ đê đường C, phường L, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Văn H đã cùng tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine.

Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, tại phòng ngủ nhà bị cáo Trần Văn T3 ở khu phố D, phường L, tỉnh Quảng Ninh, các bị cáo T, H và T3 tiếp tục tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi của các bị cáo là cố ý, thực hiện nhiều lần, có sự chuẩn bị công cụ, có sự phân công hỗ trợ nhau, đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Văn H; quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn T3. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Ninh truy tố các bị cáo theo Cáo trạng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Hình phạt chính:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma túy tại địa phương và tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh trật tự. Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ tác hại của ma túy cũng như sự nghiêm cấm của pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét vai trò của từng bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thống nhất cao trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị cáo Trần Văn T là người khởi xướng, trực tiếp liên hệ mua ma túy, chuyển tiền mua ma túy, rủ rê H cùng sử dụng, chuẩn bị và lắp dựng dụng cụ sử dụng ma túy; đồng thời tiếp tục mang số ma túy còn lại đến nhà T3 để cả ba sử dụng. Hành vi của bị cáo T thể hiện vai trò chính, giữ vị trí cao nhất trong vụ án.

Bị cáo Nguyễn Văn H biết rõ địa điểm đối tượng M cất giấu ma túy, trực tiếp đi lấy ma túy, tích cực hỗ trợ T trong quá trình sử dụng, sau đó liên hệ và rủ bị cáo T3 cùng sử dụng tại nhà. Vai trò của H đứng sau T.

Bị cáo Trần Văn T3 tuy không tham gia vào việc mua ma túy, nhưng khi được H thông báo đã đồng ý cho sử dụng tại nhà mình, chuẩn bị chai nước để làm dụng cụ sử dụng ma túy, cùng sử dụng nhiều lần. Vai trò của T3 là người thực hành nhưng ở mức độ thấp hơn hai bị cáo còn lại.

* Tình tiết tăng nặng: Không có.

* Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, mẹ bị cáo T nộp giấy tờ thể hiện mẹ bị cáo từng tham gia dân công hoả tuyến và bà của bị cáo được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng đối với từng bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định; đối với bị cáo T phải áp dụng mức hình phạt cao hơn so với bị cáo H và bị cáo T3; bị cáo T3 phải chịu mức hình phạt thấp nhất trong ba bị cáo, tương xứng với vai trò của mình trong vụ án. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[3.2] Hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, các bị cáo là lao động tự do, có thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng, tài sản:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 Phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số: 327/KL-KTHS ngày 03/4/2025 của Phòng K - Công an tỉnh Q cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, 01 bật lửa ga nhãn hiệu Hoa Việt, 01 túi nilon kích thước (1,5 x 1,7)cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 vỏ chai nhựa màu trắng nắp chai màu xanh, 01 bật lửa màu trắng; 01 vỏ chai nhựa màu xanh nhãn hiệu AVIA 3A; 02 sim số 0364.680.660 và 0967.009.028 là vật nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Oppo vỏ màu xanh thu của H; 01 điện thoại di động Oppo, mặt sau bị nứt vỡ, vỏ màu xanh của T3 là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[5] Những tình tiết khác trong vụ án:

Đối với Nguyễn Văn M có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho T và D, cơ quan điều tra đã khởi tố bổ sung vụ án "Mua bán trái phép chất ma tuý", quá trình điều tra xác minh M đều vắng mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra đã tách vụ án mua bán trái phép chất ma tuý để làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Văn D có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý trước ngày 01 tháng 7 năm 2025, D không thuộc đối tượng quản lý sau cai nghiện, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu về Công an tỉnh Q để ra quyết định xử phạt hành chính nên không đề cập xử lý.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh và hình phạt:

1.1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Trần Văn T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/3/2025.

1.2. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/3/2025.

1.3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T3 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Trần Văn T3 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/3/2025.

2. Về xử lý vật chứng, tài sản:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 Phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số: 327/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh Q; 01 chai nhựa nắp màu xanh, nắp chai có 02 lỗ, 01 lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu xanh, 01 ống hút nhựa màu vàng gắn phía dưới ống thuỷ tinh, 01 bật lửa ga nhãn hiệu Hoa Việt; 01 vỏ chai nhựa màu trắng nắp chai màu xanh, 01 bật lửa màu trắng; 01 vỏ chai nhựa màu xanh nhãn hiệu AVIA 3A; 02 sim số 0364.680.660 và 0967.009.028.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo vỏ màu xanh thu của H; 01 điện thoại di động Oppo, mặt sau bị nứt vỡ, vỏ màu xanh của T3.

(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 14/THADS-KV2 ngày 05 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Quảng Ninh).

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Trần Văn T3 mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND khu vực 2 – Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQTHAHS CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - TTG Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Mây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/HS-ST ngày 03/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 90/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T cđp - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger