|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 90/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/12/2025 V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hài
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Nhân
2. Bà Trần Vĩnh Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ.
Trong ngày 05 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân khu vực 2 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 228/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 480/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự, giữa:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị Như M, sinh năm 2000. CCCD: [...]. Địa chỉ: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Võ Văn B, sinh năm 1996. CCCD: [...]. Địa chỉ: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/8/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Dương Thị Mộng B1 trình bày:
Cuộc hôn nhân dựa trên cơ sở tự nguyện được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức lễ cưới. Giữa bà M và ông B1 có 01 đứa con chung tên Dương Thị Trúc P, sinh ngày 10/03/2017. Đến ngày 13/02/2020 nguyên đơn với ông Võ Văn B mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống bà M và ông B có 01 con chung: Dương Thị Trúc P, sinh ngày: 10/03/2017. Thời gian đầu bà M và ông B sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông Võ Văn Bình thường X đi nhậu về nhà có hành vi chửi bới, đánh đập vợ con. Bà M cũng đã khuyên răng, trao đổi nhiều lần nhưng ông Võ Văn B vẫn không thay đổi. Nay nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc nên bà M đề nghị được ly hôn với ông Võ Văn B.
- Về con chung: Giữa bà M và ông B có 01 con chung là Dương Thị Trúc P, sinh ngày: 10/03/2017. Bà M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Không yêu cầu giải quyết.
Đối với ông Võ Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo công khai chứng cứ và hòa giải cùng giấy triệu tập. Do ông B vắng mặt không lý do tại phiên hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn Giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý do.
Phần phát biểu việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có ra thông báo thụ lý, thông báo hòa giải, thu thập chứng cứ của bị đơn đúng quy định pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự của phiên tòa dân sự. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt không lý do nên xem như tự tước quyền trình bày của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định nên đây là hôn nhân hợp pháp, nguyên đơn có yêu cầu xin ly hôn và giải quyết nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại phường B, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ.
[2] Về nội dung khởi kiện:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, tuy nhiên về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân theo nguyên đơn trình bày do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H1 thường xuyên đi nhậu, bạo lực, cờ bạc và có lời lẽ xúc phạm nguyên đơn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, gia đình không hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã vận động hai bên đương sự đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, tuy nhiên cả hai bên đương sự không yêu cầu hòa giải đoàn tụ và bị đơn thống nhất ly hôn với nguyên đơn do đó xét thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn không muốn duy trì cuộc sống hôn nhân này, nên Hội đồng xét xử chấp thuận công nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Quá trình hôn nhân giữa bà Kim H và ông H1 có 01 người con chung cháu Lê Minh K (nam), sinh ngày 10/4/2023. Cả ông H1 và bà Kim H đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K đến tuổi trưởng thành và đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, ông H1 và bà Kim H không thỏa thuận được về việc nuôi con chung sau khi ly hôn. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện cả bà H và ông H1 đều là người có thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện về kinh tế để nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Tuy nhiên, sau khi xem xét, đánh giá việc giao con chưa đủ 36 tháng tuổi cho cha hoặc mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần phải căn cứ vào quyền lợi đảm bảo mọi mặt của con, đặt biệt là đảm bảo cho sự phát triển về tâm sinh lý, việc học hành và các điều kiện khác cho sự phát triển toàn diện của trẻ em. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Lê Minh K (nam), sinh ngày 10/4/2023 cho bà Lê Thị Kim H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về quyền yêu cầu cấp dưỡng, bà Kim H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con đây là sự tự nguyện của đương sự nên chấp thuận.
Ông H1 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu chứng minh được bà Kim H không nuôi dưỡng con chung tốt, không đảm bảo đủ các điều kiện để cháu K phát triển toàn diện.
Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét.
[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim H và ông Lê Minh H1 thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung là Lê Minh K (nam), sinh ngày 10/4/2023 cho bà Lê Thị Kim H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Lê Minh H1 cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Lê Minh H1, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí hôn nhân: Nguyên đơn bà Lê Thị Kim H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009023 ngày 07/11/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Cần Thơ. Bà H đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hài |
Bản án số 90/2025/HNGĐ-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 90/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Bà Dương Thị Như Mộng, sinh năm 2000. CCCD: 092300001192. Địa chỉ: Khu vực Rạch Chanh, phường Thới Long, thành phố Cần Thơ. Bị đơn: Ông Võ Văn Bình, sinh năm 1996. CCCD: 092096006098. Địa chỉ: Khu vực Rạch Chanh, phường Thới Long, thành phố Cần Thơ.
