TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 890/2025/DS-PT Ngày: 18-12-2025 V/v tranh chấp “Mở lối đi” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Nhàn
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Nam - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Mai Thị Đào Quyên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 15, 18 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 476/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Mở lối đi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1316/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1981.
- Địa chỉ: Ấp D, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang;
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1976. (có mặt)
- Địa chỉ: 4 đường N, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
- * Bị đơn: Bà Trần Thị Xuân H, sinh năm 1969. (có mặt)
- Địa chỉ: số B Ấp A, xã T, thành phố M, Tiền Giang
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970. (vắng mặt)
- Bà Hồ Thị H1, sinh năm 1972. (vắng mặt)
- Địa chỉ: số B, tổ A, Ấp A, xã T, thành phố M, Tiền Giang
- Bà Lê Thị H2, sinh năm 1948. (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp A, xã T, thành phố M, Tiền Giang
- Anh Trương Văn T, sinh năm 1976. (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp D, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
- - Người kháng cáo: Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1981.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị có 02 thửa đất là thửa 417 diện tích 1.216m² đất lúa, thửa 643 diện tích 500m² cây lâu năm, đất tại Ấp A, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang 417, nguồn gốc là nhận chuyển nhượng từ ông D và bà H1 năm 2019. Phần đất chị nhận chuyển nhượng là ở phía trong phần đất còn lại của ông D, bà H1 nên không có lối đi vào. Bà H1 có nói sẽ cho đi chung nên chị đã đồng ý mua. Việc bên bà H1 hứa cho đi không có làm giấy tờ gì, nhưng ông D có làm giấy cho Địa chính xã lúc đó, nay anh đó đã chuyển công tác, chị có đi tìm nhưng anh đó không nhớ và cũng không có giữ giấy tờ gì, vì vậy chị không có để cung cấp cho Tòa án. Cả hai phần đất chị chưa có xây dựng công trình hay cất nhà trên đất. Trước đây khi muốn vào phần đất thì chị đi chung lối đi với gia đình bà H1, ông D. Khoảng tháng 2/2023 bà H1 không ở nữa, khóa cổng lại nên chị không vào được phần đất. Chị có gặp bà H1 nói chuyện và yêu cầu chừa lại đường đi như đã hứa nếu chuyển nhượng đất cho người khác. Sau đó chị được biết ông D, bà H1 đã chuyển nhượng phần đất cho bà Trần Thị Xuân H không chừa lối đi cho chị nên chị gửi đơn ra xã nhưng hòa giải không thành.
Chị nhận chuyển nhượng là từ ông D, bà H1 hai phần đất phía trong, phần phía ngoài ông bà vẫn sử dụng, năm 2023 ông bà làm thủ tục chuyển tên sang cho bà H nhưng thực tế chỉ đứng giấy tờ chứ không có quản lý đất. Ngoài lối đi qua đất bà H thì chị không còn lối đi nào khác.
Nay chị khởi kiện yêu cầu bà H mở lối đi cho chị ngang 2,5m như sơ đồ đo đạc ở phần S1 và S2. Đối với phần S3 và S4 chị đồng ý đi chung. Về phần hoàn giá trị, theo nguyên tắc khi ông D bà H1 chuyển nhượng đất cho chị thì phải có lối đi, do đó chị không đồng ý hoàn giá trị đất. Đối với mái che, hàng rào, bàn thông thiên, cổng rào, nguyện vọng của chị là muốn mở lối đi để cả hai chủ đất cùng đi chung chứ chị không có ý sẽ tách phần lối đi chị yêu cầu mở làm lối đi cho riêng chị, do đó chị cũng không đồng ý hoàn giá trị.
- Bà Trần Thị Xuân H bị đơn trình bày:
Bà với ông D và bà H1 là chòm xóm. Bà hiện đang quản lý sử dụng phần đất thửa 642 diện tích 1260m² tại Ấp A, xã T, thành phố M, Tiền Giang. Nguồn gốc phần đất là do bà nhận chuyển nhượng từ chị Trần Mỹ P, đất do chị P nhận chuyển nhượng từ ông D, bà H1. Khi bà nhận chuyển nhượng từ chị P thì không có ai ngăn cản hay tranh chấp gì lối đi. Sau khi bà nhận chuyển nhượng, do thấy bên ông D khó khăn nên bà vẫn tiếp tục cho ở nhờ trên đất. Khi ông D, bà H1 bỏ đi thì vẫn còn mẹ bà H1 ở lại chứ không phải đi hết rồi khóa cổng lại. Đến khi UBND xã mời hòa giải bà mới biết bị chị N tranh chấp lối đi. Phần đất của bà theo giấy đất giáp đường nước nhưng phần đường nước này bên giáp ranh đã
làm hàng rào, không còn đường nước nữa. Từ phần đất của bà đến đường liên xã thì trước đây ông D đã lấp đường nước làm đường đan rộng khoảng 2m, dài khoảng 50m. Bà đã đồng ý mở lối đi cho chị N khi địa phương hòa giải nhưng do chị N không đồng ý hoàn giá trị nên khởi kiện ra Tòa án.
Nay, chị N yêu cầu mở lối đi ngang 2,5 m dài từ phần đất của chị N đến đường đan thì bà không đồng ý. Bà đồng ý mở lối đi rộng 1,5m, yêu cầu chị N phải hoàn giá trị đất cho bà theo giá thị trường.
- Chị Trương Thị Thanh T1 – đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày:
Đối với yêu cầu của chị N thì bà H chỉ đồng ý mở lối đi ở phần S2 là ngang 1,5m, hoàn nguyên giá trị đất theo chứng thư thẩm định là 51.896.700 đồng; còn phần S4 cho đi chung thì chỉ hoàn ½ giá trị đất là 1.475.000 đồng. Đối với các công trình trên phần S2 là mái che, hàng rào, bàn thông thiên yêu cầu chị N hoàn giá trị là 28.074.900 đồng, phần S4 thì bà H sẽ tự tháo dỡ. Mở lối đi riêng cho chị N.
* Tại biên bản hòa giải, ông D và bà H1 trình bày:
Ông bà là chòm xóm của bà H. Phần đất của ông bà khi làm thủ tục chuyển nhượng cho chị N là để cấn trừ nợ chứ không phải thật sự chuyển nhượng. Do vợ ông buôn bán ở chợ, chơi hụi thế nào mà thiếu nợ chị N. Ông có ý định bán đất để trả nợ, có người đến đặt cọc nhưng sau đó nói đất ruộng không mua nữa. Chị N đến, yêu cầu lấy đất cấn trừ nợ nên ông bà đồng ý. Khi đó ông bà có 01 giấy đất gồm 02 thửa. Chị N lấy đất để cấn trừ nợ, sau này sẽ cho chuộc lại nên nói là không cần lối đi, vì vậy hai bên cũng không có thỏa thuận lối đi chung gì cả. Ông D cũng không có viết giấy tờ gì cho Địa chính xã lúc đó. Sau đó ông bà đã đưa giấy đất cho chị N tách giấy đất, do là đất cây lâu năm và đất lúa nên tách cho chị N thành 02 thửa. Thửa còn lại của ông bà do còn thiếu nợ nên đã chuyển nhượng cho chị Trần Mỹ P, sau đó chị P chuyển nhượng cho bà H. Do là chòm xóm nên ông bà được bà H tiếp tục cho ở trên đất, ông bà đi làm ít về nhà chứ không phải bỏ đi, vẫn có người ở nhà, không có rào lại gì cả. Ông bà xác định là khi làm thủ tục chuyển nhượng cho chị N là để cấn trừ nợ, hoàn toàn không có thỏa thuận cho đi chung hay chừa lối đi gì cả.
* Tại bản tự khai ngày 11/11/2024 ông D trình bày:
Hiện gia đình ông đang thuê lại nhà đất diện tích 1.260m² tại Ấp A, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang của bà Trần Thị Xuân H để ở. Trước đây, ông có xây dựng mái che kết cấu cột, kèo, đòn tay thép, mái tole, nền xi măng trên phần đất (diện tích mái che trên phần tranh chấp có ký hiệu là S1, S2, là 23,4m²). Hiện tại gia đình ông đã chuyển nhượng hết nhà đất và toàn bộ công trình trên đất cho bà H nên toàn bộ mái che thuộc quyền sử dụng của bà H, ông không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì trong vụ kiện này, xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
* Tại bản tự khai ngày 11/11/2024, bà Lê Thị H2 trình bày:
Gia đình bà đang thuê lại nhà đất diện tích 1.260m² tại Ấp A, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang của bà Trần Thị Xuân H để ở. Trước đây, bà có xây dựng mái che kết cấu cột, kèo, đòn tay thép, mái tole, nền xi măng trên phần đất (diện tích mái che trên phần tranh chấp có ký hiệu là S1, S2, S3, S4 là 20,15m²). Hiện tại gia đình bà đã chuyển nhượng hết nhà đất và toàn bộ công trình trên đất cho bà H nên toàn bộ mái che thuộc quyền sử dụng của bà H, bà không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì trong vụ kiện này, xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Anh Trương Văn T thống nhất yêu cầu của chị N, xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang căn cứ Điều 5,92,147, 157, 165, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 245, 254, 357 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 29, 133 Luật đất đai năm 2024; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị N.
- Ghi nhận bị đơn Trần Thị Xuân H mở cho nguyên đơn Nguyễn Thị N lối đi qua thửa đất số 642, tờ bản đồ số 19 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS18405 do Sở tài nguyên và Môi trưởng tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Văn D ngày 06/9/2019, được đăng ký biến động ở trang 4 ngày 09/3/2023 cho bà Trần Thị Xuân H. Phần đất lối đi có chiều ngang 1,5m, thể hiện tại ký hiệu S2 và S4 theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 11/9/2024 của Công ty I và mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố M xác nhận ngày 16/10/2024 kèm theo (trong đó ký hiệu S2 là lối đi riêng của chị N, ký hiệu S4 là lối đi chung của chị N và bà H).
- - Các đương sự được quyền đăng ký biến động đất đai theo quy định của Luật đất đai năm 2024.
- - Ghi nhận bà H tự nguyện tháo dỡ cổng rào và không yêu cầu chị N đền bù gì; không yêu cầu đền bù đường đan bị ảnh hưởng.
- - Chị N được sở hữu hàng rào có diện tích 49,13m², kết cấu: Cột bê tông, tường lửng, phía trên có lưới B40. Buộc bà H tháo dỡ mái che ở phần S2 có diện tích 23,91m², có kết cấu: cột, kèo, đòn tay thép, mái tole).
- - Buộc chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua là chị Nguyễn Thị N đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền là bà Trần Thị Xuân H số tiền 81.098.673 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 31/3/2025, nguyên đơn Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm 54/2025/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét
cho chị mua lối đi với bà H có chiều ngang 2,5m và đồng ý trả tiền giá trị đất, không đồng ý trả tiền di dời mái hiên.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo xin mở lối đi ngang 2,5m. Bị đơn không đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng nội qui phòng xử án và thực hiện quyền, nghĩa vụ đúng pháp luật.
Về nội dung : Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị N là không có cơ sở vì, theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất thì phần lối đi có chiều rộng 1,5m ký hiệu S2 có diện tích 38,7m² và S4 có diện tích 2,2m² (trong đó phần S2 là lối đi riêng cho bà N, còn S1 là lối đi chung).
Xét phần diện tích S4 giáp đường bê tông và nằm gần cuối đất bà H ngay lối vào nhà, kế tiếp là giáp đường nước nên không còn phần đất nào để bà H mở lối đi riêng được nên việc bà H đồng ý mở và đi chung với chị N là phù hợp thực tế và vị trí đất. Do đó, yêu cầu của bà N mở lối đi ngang 2,5m là không phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho (nay là Khu vực 1).
Qua nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kháng cáo của nguyên đơn, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Xét đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị N nộp trong thời hạn, đúng với quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp yêu cầu mở lối đi” là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị N yêu cầu mở lối đi diện tích ngang 2,5m, xét thấy: Chị Nguyễn Thị N và anh Trương Văn T được quyền sử dụng 02 thửa đất số 417 diện tích 1.216m² và thửa 643 diện tích 500m², tờ bản đồ số 19 tại ấp A, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Liền kề thửa 643 là thửa đất số 642 do bà Trần Thị Xuân H là chủ sử dụng đất. Các thửa đất của bà N nằm phía trong liền kề với thửa đất 642 của bà H. Nguồn gốc các thửa đất 643, 642 là của ông Nguyễn Văn D, bà Hồ Thị H1 sang nhượng cho chị N, bà H. Chị N cho rằng khi nhận chuyển nhượng đất từ ông D thì hai bên thỏa thuận cho chị N đi chung lối đi trên thửa 642 để ra đường bê tông, nhưng sau khi ông D chuyển nhượng thửa 642 cho bà H thì bà H thường xuyên khóa cổng rào nên chị không đi vào các thửa đất của chị được.
Xét vị trí thửa đất số 417 diện tích 1.216m²; Thửa 643, tờ bản đồ 19, diện tích 500m² tại ấp D, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 03/12/2019 cho chị Nguyễn Thị N bị vây bọc bởi các thửa đất xung quanh (trong đó có thửa đất của bà Trần Thị Xuân H) không tiếp giáp đường công cộng. Ngoài lối đi đang tranh chấp thì hộ chị N không có lối đi khác thuận tiện và ngắn hơn để đi ra đường công cộng. Do vậy, nhu cầu mở lối đi của chị N theo đo đạc thực tế là 38,7m² (chiều ngang 1,5m, dài 25,86m) nằm trong thửa 642 cho chị N sử dụng để ra đường công cộng là phù hợp với qui định tại Điều 254 Bộ luật dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N là có căn cứ.
[3] Chị N kháng cáo yêu cầu mở lối đi ngang 2,5m, thấy rằng;
Lối đi chị N yêu cầu mở chỉ để cho hộ gia đình chị N sử dụng vào các thửa đất của chị N, ngoài ra không có hộ nào khác sử dụng nên chị N yêu cầu mở lối đi ngang 2,5m là không phù hợp. Đồng thời, theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất thì phần lối đi có chiều rộng 1,5m ký hiệu S2 có diện tích 38,7m² và S4 có diện tích 2,2m² ( trong đó phần S2 là lối đi riêng cho chị N, còn S1 là lối đi chung).
Xét phần diện tích S4 giáp đường bê tông và nằm gần cuối đất bà H ngay lối vào nhà, kế tiếp là giáp đường nước nên không còn phần đất nào để bà H mở lối đi riêng được nên việc bà H đồng ý mở và đi chung với bà N là phù hợp thực tế và vị trí đất. Do đó, yêu cầu của bà N mở lối đi ngang 2,5m là không phù hợp.
[4] Từ những phân tích trên, xét yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị N là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[5] Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của chị N không được chấp nhận nên chị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị N. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 54/2025/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Tháp).
- - Áp dụng Điều 245, Điều 254, Điều 357 của Bộ luật dân sự;
- - Các điều 29, Điều 133 của Luật đất đai;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử;
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị N.
- Ghi nhận bị đơn Trần Thị Xuân H mở cho nguyên đơn Nguyễn Thị N lối đi qua thửa đất số 642, tờ bản đồ số 19 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS18405 do Sở tài nguyên và Môi trưởng tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Văn D ngày 06/9/2019, được đăng ký biến động ở trang 4 ngày 09/3/2023 cho bà Trần Thị Xuân H. Phần đất lối đi có chiều ngang 1,5m, thể hiện tại ký hiệu S2 và S4 theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 11/9/2024 của Công ty I và mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố M xác nhận ngày 16/10/2024 kèm theo (trong đó ký hiệu S2 là lối đi riêng của chị N, ký hiệu S4 là lối đi chung của chị N và bà H).
- Các đương sự được quyền đăng ký biến động đất đai theo quy định của Luật đất đai năm 2024.
- - Ghi nhận bà H tự nguyện tháo dỡ cổng rào và không yêu cầu chị N đền bù gì; không yêu cầu đền bù đường đan bị ảnh hưởng.
- - Chị N được sở hữu hàng rào có diện tích 49,13m², kết cấu: Cột bê tông, tường lửng, phía trên có lưới B40. Buộc bà H tháo dỡ mái che ở phần S2 có diện tích 23,91m², có kết cấu: cột, kèo, đòn tay thép, mái tole).
- Buộc chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua là chị Nguyễn Thị N đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền là bà Trần Thị Xuân H số tiền 81.098.673 đồng.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp bị đơn chậm thi hành số tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
[2]. Về án phí:
Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và 4.054.933 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 600.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005656 ngày 31/3/2025; Biên lai thu số 0024289 ngày 04/10/2023 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Nên còn phải nộp tiếp 3.754.000 đồng nữa.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Án tuyên lúc 08 giờ 00 phút, ngày 18/12/2025 có mặt bà H, Kiểm sát viên, vắng mặt ông S.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diệp Thúy |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thanh Nhàn Nguyễn Ngọc Thái Dũng | Nguyễn Thị Diệp Thúy |
Bản án số 890/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp “mở lối đi”
- Số bản án: 890/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Mở lối đi”
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mở lối đi
