Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1- ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-Bản án số: 89/2025/HS-ST

-Ngày: 10/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • * Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài
  • * Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Lê Thị Ngọc Ánh
    2. Ông Nguyễn Hoa Kiều
  • * Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Sỹ Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Tháp.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi Yến - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Tháp mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Tháp đối với bị cáo:

TRẦN VĂN C, sinh ngày 08 tháng 4 năm 1984 tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp). Số CCCD [...] do Cục C2 về TTXH cấp ngày 06 tháng 01 năm 2025. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Làm vườn. Nơi cư trú: ấp A, xã M, tỉnh Đồng Tháp. Con ông Trần Văn C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B. Bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình, có 05 anh, chị ruột. Bị cáo có vợ (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2012. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Bị cáo cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2025 đến ngày 28/5/2025. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại: Đoàn Khánh T, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã T, tỉnh T

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Lưu Minh T1, sinh năm 1985 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp Bào Dài, xã Thuận Mỹ, tỉnh T

  2. Lương Thanh P, sinh năm 1980 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp A, xã H, tỉnh T

* Người làm chứng

  1. Nguyễn Trần Ngọc H, sinh năm 1993 (vắng mặt)
  2. Đinh Thị Kim Y, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp T, xã M, tỉnh Đ

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định trộm cắp tài sản, khoảng 23 giờ ngày 22/5/2025, Trần Văn C chuẩn bị 02 cây kìm (dạng kìm cắt cáp nhông) và điều khiển xe mô tô biển số 62K1-164.58 đi từ nhà đến nhà máy X, địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T (nay là xã M, tỉnh Đ), do anh Đoàn Khánh T làm chủ, để trộm tài sản. Tại đây, C dùng kìm mang theo sẵn cắt trộm dây điện của nhà máy, đến khoảng 03 giờ ngày 23/5/2025 thì cắt xong 03 đoạn dây điện rồi để lên xe chở về nhà. Khi đến đường H, đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp) thì bị anh Nguyễn Trần Ngọc H phát hiện nghi vấn nên đuổi theo truy hô, C bỏ lại xe mô tô và 03 đoạn dây điện để tẩu thoát. Toàn bộ vật chứng được anh Nguyễn Trần Ngọc H giao nộp cho Công an. Ngày 25/5/2025, Công an xã T (nay là Công an xã M) triệu tập Trần Văn C đến làm việc, C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 35/KL-ĐGTS ngày 27/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định giá:

  • + 01 đoạn dây điện, chiều dài 11,1 mét, loại dây điện cáp Cadivi 240 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi kim loại màu đồng, được mua mới năm 2012. Đơn giá: 661.000 đồng/1m x 11.1 m x 30% = 2.201.130 đồng.
  • + 01 đoạn dây điện, chiều dài 14.3 mét, loại dây cáp Cadivi 240 mm, vỏ bằng nhựa đen, lõi kim loại màu đồng, được mua mới năm 2012. Đơn giá: 661.000 đồng/1m x 14,4 m x 30% = 2.835.690 đồng.
  • + 01 đoạn dây điện, chiều dài 18,45 mét, loại dây điện cáp Cadivi 240 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi kim loại màu đồng, được mua mới năm 2012. Đơn giá: 661.000 đồng/1m x 18,45 m x 30% = 3.658.635 đồng.

Tổng giá trị tài sản là: 8.695.455 đồng.

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1– Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Trần Văn C mức án từ 15 tháng tù đến 21 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại được tài sản nên không yêu cầu bồi thường dân sự. Tại phiên tòa, bị hại xin vắng mặt và không yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách vải màu đen, viền đỏ; 01 cây kìm có chiều dài 32 cm, tay cầm bằng nhựa; 01 cây kìm có chiều dài 18 cm, tay cầm bằng nhựa; 01 áo mưa màu xanh đen, bị rách nhiều chỗ, không nhãn hiệu.
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước xe mô tô 62K1-164.58.

Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với Cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng. Bị cáo có lời nói sau cùng, bị cáo biết mình có hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo được tại ngoại để chăm sóc mẹ già, con còn nhỏ đi học và trở thành người có ích cho xã hội để làm lại cuộc đời.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người tham gia tố tụng khác, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T (nay là tỉnh Đồng Tháp), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Tháp), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa, bị hại có đơn xin vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt không lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng để tham dự phiên tòa. Nhận thấy, việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo, bị cáo đồng ý tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục phiên tòa xét xử đối với bị cáo.
  3. Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: Khoảng 03 giờ, ngày 23/5/2025, tại nhà máy X, địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T (nay là xã M, tỉnh Đ), Trần Văn C có hành vi lén lút cắt và lấy trộm tài sản là 03 đoạn dây điện của anh Đoàn Khánh T, tổng giá trị tài sản là 8.695.455 đồng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
  4. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:

    “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

    Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội.

  5. Tính chất, mức độ hành vi:

    Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án, gây bất bình, không an tâm lao động, sản xuất trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo lúc phạm tội là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và bị cáo đã từng bị xử phạt hình phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản lẽ ra bị cáo phải biết hối cải, sửa chữa sai lầm để lao động tạo ra tài sản nhưng bị cáo vẫn cố ý tiếp tục trộm cắp tài sản. Bị cáo lợi dụng lúc đêm khuya, bị cáo đã lén lút dùng kiềm cắt 03 đoạn dây điện có tổng chiều dài 43.85 mét, loại dây điện cáp hiệu Cadivi 240 mm, tổng giá trị 8.695.455 đồng, mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho mọi người.

  6. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân:
    • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
    • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, từng có tiền án, tiền sự, cụ thể:
      • + Năm 1998, Ủy ban nhân dân tỉnh T ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng (quyết định số 31/QĐUB ngày 28/4/1998). Chấp hành tại Trường G tỉnh Đồng Nai, chấp hành xong.
      • + Ngày 27/3/2002, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử tuyên phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 14/2002/HSST ngày 27/3/2002). Bị cáo đã chấp hành xong.
      • + Ngày 17/8/2004, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 26/2004/HSST ngày 17/8/2004). Bị cáo đã chấp hành xong.
      • + Ngày 26/7/2006, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, tuyên phạt 03 năm tù (Bản án số 11/2006/HSST ngày 26/7/2006). Bị cáo đã chấp hành xong.
  7. Đồng phạm và các vấn đề khác: Vụ án này không có đồng phạm.

    Quá trình điều tra, Trần Văn Công K nhận trước khi trộm tài sản vào ngày 23/5/2025, C đã có 03 lần trộm tài sản là dây điện tại Nhà máy X, trong đó có 02 lần đã lấy được tài sản và bán cho người thu mua phế liệu không rõ họ tên, địa chỉ, không rõ số lượng, trọng lượng và nhãn hiệu dây điện. Hiện Cơ quan điều tra không thu hồi được. Qua làm việc, anh Đoàn Khánh T cũng không xác định được số lượng, trọng lượng và nhãn hiệu, đặc điểm dây điện mà nhà máy bị mất, do nhà máy bỏ trống, không sử dụng từ 03 năm trước. Do không xác định được đặc điểm tài sản làm căn cứ định giá, xác định giá trị thiệt hại nên hiện tại Cơ quan điều tra chưa có cơ sở truy cứu trách nhiệm Trần Văn C đối với 03 lần trộm trước đó. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ, có cơ sở sẽ xử lý sau.

  8. Về trách nhiệm dân sự:

    Tại cơ quan điều tra, bị hại đã được nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường dân sự.

    Tại phiên tòa, bị hại xin vắng mặt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

  9. Về xử lý vật chứng:

    - Đối với 01 xe mô tô hai bánh biển số 62K1-164.58. Qua tra cứu, xác minh thể hiện chủ sở hữu xe là anh Lưu Minh T1, sinh năm 1985, cư trú ấp B, xã T, tỉnh Tâ. Quá trình làm việc, anh T1 trình bày đã bán xe mô tô nêu trên cho Lương Thanh P, sinh năm 1980, cư trú ấp A, xã H, tỉnh Tây Ninh. Sau đó, Lương Thanh P tiếp tục bán xe này cho bị cáo Trần Văn C. Toàn bộ quá trình không làm thủ tục sang tên. Nay Lưu Minh T1 và Lương Thanh P không có yêu cầu gì về xe mô tô này. Bị cáo sử dụng xe này làm phương tiện đi trộm cắp tài sản do đó, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

    - Đối với 01 túi xách vải màu đen, viền đỏ, 01 cây kìm có chiều dài 32 cm, tay cầm bằng nhựa, 01 cây kìm có chiều dài 18 cm, tay cầm bằng nhựa, 01 áo mưa màu xanh đen, bị rách nhiều chỗ, không nhãn hiệu là công cụ, vật dụng bị cáo mang theo sử dụng để cắt trộm dây điện, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

  10. Xét ý kiến Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
    • + Về tội danh, mức hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với hành vi, vai trò, nhân thân thân của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét, cân nhắc khi nghị án.
    • + Về xử lý vật chứng Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
    • + Về trách nhiệm hình sự: Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  11. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  12. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • - Căn cứ khoản 9 Điều 2 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  • * Xử phạt bị cáo Trần Văn C 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2025 đến ngày 28/5/2025.

2/ Về xử lý vật chứng:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách vải màu đen, viền đỏ, 01 cây kìm có chiều dài 32 cm, tay cầm bằng nhựa, 01 cây kìm có chiều dài 18 cm, tay cầm bằng nhựa, 01 áo mưa màu xanh đen, bị rách nhiều chỗ, không nhãn hiệu.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô hai bánh, biển số 62K1-164.58.

3/ Về án phí hình sự sơ thẩm:

  • Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.
  • Bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Về quyền kháng cáo:

  • Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND khu vực 1 - Đồng Tháp;
  • - THADS khu vực 1 - Đồng Tháp;
  • - Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo, bị hại...;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa

Phạm Văn Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 89/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn C phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger