Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST;

Ngày: 01 - 12 - 2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hồng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Trang;
Bà Nguyễn Thị Lành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về việc ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1976;
  • Địa chỉ: H, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là số H, ấp P, phường P, tỉnh Vĩnh Long).
  • - Bị đơn: Ông Đặng Văn N, sinh năm: 1970; Quốc tịch: Hoa Kỳ;
  • Địa chỉ: A F, MN E, Hoa Kỳ;
  • Chỗ ở hiện nay: 5052 River Wood D, MN E, Hoa Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 12 năm 2024, bản tự khai, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Trúc L trình bày:

Năm 2016, ông Đặng Văn N từ Hoa Kỳ trở về Việt Nam có gặp gỡ bà L và nảy sinh tình cảm. Năm 2017, ông N bà L đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 19/4/2017. Sau khi kết hôn, bà L vẫn tiếp tục sinh sống tại Bến Tre và ông N trở về Hoa Kỳ. Năm 2018, ông N có trở về Việt Nam thăm bà 01 lần vào dịp hè tháng 8/2018. Từ năm 2019 đến nay, ông N không trở về Việt Nam nữa mà chỉ liên lạc với bà L qua điện thoại, đến ngày 20/10/2023 bà L chính thức mất liên lạc với ông N vì ông N chặn mọi hình thức liên lạc với bà L hơn 01 năm.

Do đó, bà L nhận thấy tình cảm giữa bà và ông N không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Đặng Văn N.
  • - Về con chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Nguyễn Thị Trúc L cũng có yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại các buổi công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử của Tòa án do hiện tại bà bận công việc không thể tham gia được.

Theo kết quả ủy thác tư pháp từ Bộ Tư pháp cho thấy, các tài liệu văn bản phía Tòa án gửi cho ông N theo địa chỉ mà bà L cung cấp và theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa bà L và ông N, nhưng Cơ quan có thẩm quyền của H chúng quốc Hoa Kỳ không thực hiện được ủy thác tư pháp do không có người nhận tại địa chỉ này và phía cơ quan có thẩm quyền có cung cấp cho Tòa án địa chỉ mới của ông N, Tòa án tiếp tục thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý cho ông N theo địa chỉ mà cơ quan có thẩm quyền đã cung cấp. Mặc dù vậy, vẫn không thể thực hiện được việc tống đạt cho ông N. Do đó, căn cứ theo điểm a, c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long) đưa vụ án ra xét xử.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Đặng Văn N là ly hôn, bị đơn ông Đặng Văn N hiện đang ở nước ngoài (Hoa Kỳ), theo kết quả ủy thác tư pháp từ Bộ Tư pháp ngày 8/8/2025 nên căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long).

[1.2] Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt; ông N không còn ở địa chỉ trong giấy đăng ký kết hôn, cơ quan có thẩm quyền đã cung cấp địa chỉ mới của ông N ở nước ngoài, Tòa án đã tiến hành tống đạt. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228, 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: ông Đặng Văn N và bà Nguyễn Thị Trúc L đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 19/4/2017, số vào sổ đăng ký kết hôn số: 22/2017; nên hôn nhân giữa ông N và bà L là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

[2.2] Bà L trình bày từ năm 2019 đến nay ông N không trở về Việt Nam nữa mà chỉ liên lạc với bà L qua điện thoại, đến ngày 20/10/2023 bà L chính thức mất liên lạc với ông N vì ông N chặn mọi hình thức liên lạc với bà L hơn 01 năm. Do đó, bà L nhận thấy tình cảm giữa bà và ông N không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện tại cuộc sống vợ chồng giữa ông N bà L không thể hàn gắn.

[2.3] Hội đồng xét xử thấy rằng bà L và ông N không đưa ra được giải pháp hàn gắn đoàn tụ. Từ kết quả ủy thác tư pháp của Bộ Tư pháp ngày 8/8/2025 cho thấy, ông N đã thay đổi địa chỉ cư trú ở nước ngoài nhưng không thông báo cho bà L biết, hai người không còn liên lạc. Do vậy, có thể thấy hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Đặng Văn N được xem là không thể hàn gắn, không có tình nghĩa vợ chồng, lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông N là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Bà L và ông N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà L và ông N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch bà L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngoài ra, bà L phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và các Điều 147, 152, 153, 227, 228, 238, 477, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81,82, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Trúc L.
    1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn với ông Đặng Văn N.
    2. Về con chung: Bà L và ông N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
    3. Về tài sản chung: Bà L và ông N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
    4. Về nợ chung: Bà L và ông N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Tòa án không nhận được đơn yêu cầu độc lập nào của bên thứ ba nên không giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì các bên đương sự có quyền khởi kiện vụ kiện khác.
  2. Về án phí, chi phí tố tụng:
    • - Bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà L đã nộp theo biên lai thu số 0007828 ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long). Bà Nguyễn Thị Trúc L đã nộp đủ án phí.
    • - Bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu phí thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007846 ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long).
    • - Bà Nguyễn Thị Trúc L đã nộp đủ chi phí tố tụng (dịch thuật; chuyển phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp ra nước ngoài) nên không phải nộp thêm.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • - Bà Nguyễn Thị Trúc L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Ông Đặng Văn N hiện đang ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Lành Nguyễn Thế Hồng
Nguyễn Thanh Trang
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/HNGĐ-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về ly hôn

  • Số bản án: 89/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Trúc Linh - Đặng Văn Những -Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger