|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2025/HS-ST Ngày: 12 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Quốc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sơn
Ông Nguyễn Tuấn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 68/2025/HSST ngày 03 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ
Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 02/02/1994 tại Quảng Trị; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn N và bà Nguyễn Thị Y; Có vợ là Phan Thị C và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2023) Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/3/2025. Có mặt.
* Bị hại: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1966; Trú tại: C H, Khu E, phường A, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị C, sinh năm 1990; Trú tại: thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1992; Trú tại: N, xã T, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- Ông Phạm Huy H, sinh năm 1986; Trú tại: Tổ E, Khu A, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Để có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Văn Đ lên mạng internet tìm hiểu cách thức tạo tài khoản facebook giả mạo của những người Việt Nam đang ở nước ngoài rồi nhắn tin lừa đảo người thân của họ ở trong nước mục đích chiếm đoạt tài sản. Khoảng đầu tháng 3 năm 2025, Đ truy cập vào hội nhóm người Việt Nam đang sinh sống tại Canada trên mạng xã hội facebook và thấy tài khoản cá nhân tên là “Lina Hồ” hoạt động nhiều trên cộng đồng nên đã nảy sinh ý định giả mạo người này để phục vụ cho việc lừa đảo. Đ vào trang cá nhân của tài khoản “Lina Hồ” tải các hình ảnh thật của người này về máy của mình, sau đó tạo một tài khoản facebook mới cũng đặt tên “Lina Hồ” và đăng tải hình ảnh vừa tải về với mục đích để cho người thân của tài khoản “Lina Hồ” thật không phân biệt được đây là tài khoản giả mạo.
Tiếp đó, Đ nghiên cứu tài khoản facebook thật “Lina Hồ” để nắm các thông tin cũng như các mối quan hệ bạn bè trên facebook của tài khoản này, qua đó biết được tài khoản tên “Tuyến Thanh” của bà Vũ Thị T là mẹ chồng của chủ tài khoản tên “Lina Hồ” nên Đ đã sử dụng facebook giả mạo tên “Lina Hồ” vừa lập để gửi lời mời kết bạn với tài khoản “Tuyến T2” của bà T. Do tài khoản này trùng tên với tài khoản của con dâu bà T là chị Hồ Thị Thanh N1 đồng thời có các hình ảnh thật của chị N1 cùng con trai nên bà T đã đồng ý chấp nhận lời kết bạn của tài khoản giả do Đ sử dụng. Sau đó, Đ sử dụng messenger của tài khoản facebook giả mạo nhắn tin với bà T. Quá trình nhắn tin, Đ giả mạo chị Hồ Thị Thanh N1 và đưa ra thông tin gian dối chị N1 đang làm dịch vụ chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam để kiếm phí và nhờ bà T chuyển tiền giúp cho người thân ở Việt Nam của khách thì bà T đồng ý. Đồng thời để tạo niềm tin cho việc chị N1 có làm dịch vụ chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam, Đ sử dụng sim số điện thoại 0385.159.xxx đóng giả là người thân ở Việt Nam của khách để điện thoại hối thúc bà T chuyển.
Đồng thời thông qua mạng xã hội Telegram, Nguyễn Văn Đ liên hệ với một tài khoản “Phát Phát 79” (không rõ lai lịch) chuyên cung cấp số tài khoản ngân hàng, làm dịch vụ chuyển, rút tiền trung gian với phí chuyển, rút tiền là 30%. Đ được “Phát Phát 79” cung cấp các số tài khoản ngân hàng gồm: V số [...] chủ tài khoản Phạm Huy H, tài khoản ngân hàng V số [...] và tài khoản ngân hàng S2 số 0393877298 cùng chủ tài khoản Lý Hồng S để Đ sử dụng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Từ khoảng 09 giờ 30 phút đến 13 giờ 50 phút ngày 14/3/2025, bà T đang ở nhà tại địa chỉ số C H, phường A, thành phố Đà Nẵng thì Đ nhắn tin và yêu cầu bà T chuyển số tiền 490.000.000đ cho khách, bà T đồng ý chuyển số tiền trên từ tài khoản ngân hàng V1 của bà đến tài khoản ngân hàng V mang tên Phạm Huy H do Đ cung cấp. Đồng thời, Đ sử dụng số điện thoại 0385.159.xxx đóng giả người thân của người chuyển tiền và nói là khách của chị N1 gọi cho chị T hối thúc việc chuyển tiền. Bà T đã chuyển khoản số tiền 490.000.000₫ theo yêu cầu của Đ và gửi tin nhắn lịch sử giao dịch thành công đến facebook giả mạo cho Đ, Đ gửi hình ảnh này cho “Phát Phát 79” để người này rút tiền. Sau khi trừ chi phí 150.000.000đ, số tiền còn lại là 340.000.000đ, “Phát Phát 79” thuê shipper giao tiền mặt về địa chỉ do Đ cung cấp tại khu vực chùa L, xã T, huyện T nay là xã T, tỉnh Quảng Trị cho Đ.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Đ nhận được cuộc gọi nhận tiền thì nhờ vợ là Phan Thị C ra lấy giúp 01 bọc màu đen về cất tại nhà. Đến 02 ngày sau, Đ mở ra đếm thì có 340.000.000đ tiền mặt. Số tiền này sau đó Đ cho bà Trần Thị T1 vay 200.000.000đ, số tiền còn lại Đ cất giấu tại nhà.
Ngoài ra, Đ còn yêu cầu bà T chuyển thêm 300.000.000đ vào tài khoản ngân hàng V (số tài khoản 100871502166) mang tên Ly Hong S1, nhưng do bà T nghi ngờ bị lừa đảo nên đã đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ trình báo sự việc.
Qua truy xét, Cơ quan Điều tra xác định được Nguyễn Văn Đ, quá trình làm việc Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Đến tối ngày 21/3/2025, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ tại T, xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Quảng Trị thu giữ:
- + 91 tờ tiền mệnh giá 500.000đ;
- + 547 tờ tiền mệnh giá 200.000đ;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8 số Imei: 354894097029613;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8 Plus số Imei: 356118094212271;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone XS, số I: 357209090256146;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8, số I: 356079091513238;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8, số I: 356732088398878;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 11, số I: 355435970876081.
Ngoài ra, Cơ quan Điều tra còn thu giữ các tài sản, đồ vật liên quan của:
- + Thu giữ của bà Phan Thị C 10 cuốn sổ tiết kiệm mang tên Phan Thị C; 200.000.00₫ tiền mặt – là số tiền Đ cho Trần Thị T1 vay;
- + Thu giữ của bà Vũ Thị T: 42 tờ giấy A4 thể hiện hành ảnh các nội dung liên quan đến nội dung tin nhắn đối tượng giả mạo facebook “Lina Hồ” lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các giao dịch chuyển tiền.
Về dân sự:
Cơ quan Điều tra đã thu hồi số tiền 340.000.000đ thu giữ của Nguyễn Văn Đ và trả lại cho bà Vũ Thị T. Bà Phan Thị C là vợ Nguyễn Văn Đ cũng đã làm việc và bồi thường cho bà T số tiền 150.000.000đ, bà T không có yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với Đ
Tại bản Cáo trạng số 17/CT -VKS - P2 ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Đà Nẵng thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 05 đến 06 năm tù.
Về vật chứng đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 06 điện thoại di động các loại thu giữ của bị cáo; Tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 42 tờ giấy A4 thể hiện hành ảnh các nội dung liên quan đến nội dung tin nhắn lừa đảo của bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đề cập, bị cáo không có ý kiến gì về tội danh cũng như thủ tục tố tụng, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo phạm tội lần đầu nên xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có điều kiện lao động nuôi con. Liên quan đến việc đề nghị chuyển tiền, Đ khai nhận trong ngày 14/3/2025 sau khi thấy bà T tin, tưởng mình là con dâu bị cáo 04 lần đề nghị bà T chuyển tiền. Số tiền đề nghị chuyển lần lượt là 90.000.000₫, 70.000.000đ, 180.000.000đ và 150.000.000đ. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 490.000.000đ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phan Thị C trình bày: Bà là vợ của Nguyễn Văn Đ, vào tối ngày 14/3/2025 Đ có nhờ bà đi nhận hàng do người khác giao tại khu vực chùa L, xã T. Sau khi nhận 01 bọc màu đen, theo lời dặn của Đ bà đem về cất tại nhà chứ không kiểm tra bên trong có gì. Sau này mới biết bên trong là tiền, bà có hỏi nhưng Đ không nói là tiền gì, cho đến khi Cơ quan Điều tra làm việc bà mới biết tiền này là do bị cáo phạm tội mà có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Xuất phát từ động cơ muốn lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Văn Đ đã lập tài khoản facebook giả tên “Lina Hồ”, mạo danh chị Hồ Thị Thanh N1 sau đó chủ động kết bạn với tài khoản “Tuyến T2” là tài khoản facebook của bà Vũ Thị T - mẹ chồng chị N1 làm bà T nhầm tưởng nên đồng ý kết bạn. Tiếp đó Đ đưa ra thông tin gian dối về việc làm dịch vụ chuyển tiền từ nước ngoài về Việt Nam làm bà T tin tưởng và bị cáo 04 lần đề nghị bà T chuyển số tiền tổng cộng là 490.000.000đ vào tài khoản V mang tên Phạm Huy H do Đ cung cấp sau đó Đ chiếm đoạt. Do đó Cáo trạng số 17/CT -VKS - P2 ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp từ 02 lần trở lên, trước khi thực hiện hành vi đã có sự tìm hiểu, dò xét về mối quan hệ của người bị hại, khi thực hiện hành vi bị cáo không đề nghị chuyển tiền trực tiếp cho mình mà chuyển quan trung gian để tránh bị phát hiện qua đó gây thiệt hại cho người bị hại số tiền 490.000.000đ. Do đó, đối với bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục đồng thời làm gương cho người khác.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ: Bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đồng thời đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ số tiền chiếm đoạt cho người bị hại và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5] Đối với những vấn đề liên quan của vụ án:
[5.1] Đối với bà Phan Thị C là vợ của Nguyễn Văn Đ, theo đề nghị của bị cáo bà C có nhận giúp số tiền 340.000.000đ bỏ trong 01 bọc màu đen sau đó cất tại nhà. Lời khai của bị cáo và bà C đều thể hiện thời điểm nhận tiền bà C không kiểm tra và không biết bên trong là tiền, sau đó bà C biết thì Cơ quan Điều tra cũng đã làm việc với Nguyễn Văn Đ liên quan đến vụ án này. Từ diễn biến như trên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề cập trách nhiệm hình sự đối với bà Phan Thị C nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5.2] Đối với bà Trần Thị T1 là chị dâu của Nguyễn Văn Đ có vay mượn của bị cáo số tiền 200.000.000đ trong tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà T. Tuy nhiên bà T1 không biết nguồn gốc số tiền này là do bị cáo phạm tội mà có. Do đó Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không đề cập, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5.3] Đối với Nguyễn Huy H1 là người đứng tên chủ tài khoản số 0488558952 mở tại Ngân hàng V đã được Cơ quan Điều tra triệu tập lấy lời khai, theo đó H1 khai đã mở nhiều tài khoản tại nhiều Ngân hàng khác nhau để chạy quảng cáo trên mạng. Trong đó đối với khoản số 0488558952 mở tại Ngân hàng V vào tháng 02/2025 H1 bị nhóm đối tượng lừa sang Campuchia và bị khống chế chiếm quyền sử dụng, kiểm soát đối với tài khoản này từ đó đến nay anh không còn sử dụng. Do đó anh và không biết, không liên quan đến việc bà Vũ Thị T tiền trong vụ án.
[5.4] Đối với Lý Hồng S hiện không có mặt tại địa phương. Dữ liệu xuất nhập cảnh thể hiện S đã xuất cảnh ra nước ngoài và chưa nhập cảnh trở lại.
[5.5] Đối với tài khoản Telegram “Phát Phát 79” cũng như đối tượng liên quan đến việc làm trung gian để nhận tiền mà Nguyễn Văn Đ lừa đảo mà có rồi giao lại cho Đ qua đó hưởng lợi hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch.
Cơ quan Điều tra cho rằng đã hết thời hạn điều tra nhưng chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Huy H1, Lý Hồng S và các đối tượng có liên quan nên tiếp tục điều tra, xử lý sau. Phạm vi vụ án này Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không tiếp tục đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về dân sự: Người bị hại là bà Vũ Thị T đã nhận lại toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt như đề cập trên đồng thời không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Đối với vật chứng là số tiền 340.000.000đ bị cáo chiếm đoạt đã được Cơ quan Điều tra thu hồi trả lại cho người bị hại, sau khi nhận lại tài sản người bị hại cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7.2] Đối với vật chứng là 10 sổ tiết kiệm đứng tên Phan Thị C cùng với số tiền 14.900.000đ là tài sản của chị Phan Thị C, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chị C. Sau khi nhận lại tài sản chị C không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không để cập xem xét.
[7.3] Đối với các vật chứng gồm: 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8 số Imei 354894097029613; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8 Plus số Imei 356118094212271; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone XS, số Imei 357209090256146; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8, số I 356079091513238; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8, số Imei 356732088398878; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 11, số I 355435970876081 tại phiên tòa bị cáo xác nhận toàn bộ các điện thoại này bị cáo đều dùng vào việc truy cập mạng để tìm hiểu cũng như tạo lập và đăng nhập tài khoản mạng xã hội để phục vụ việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xét các tài sản này đều là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.
[7.4] Đối với vật chứng, chứng cứ là 42 tờ giấy A4 có in hình ảnh, thông tin tin nhắn lừa đảo giữa tài khoản “Lina Hồ” với “Tuyến Thanh” là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cần tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án để phục vụ xét xử.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1/ Căn cứ vào: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 05 (Năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/3/2025
2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước các vật chứng gồm:
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8 số Imei 354894097029613;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8 Plus số Imei: 356118094212271;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone XS, số I: 357209090256146;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8, số I: 356079091513238;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 8, số I: 356732088398878;
- + 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 11, số I: 355435970876081.
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 – Đà Nẵng).
- Tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 42 tờ giấy A4 có in hình ảnh, thông tin tin nhắn lừa đảo giữa Tài khoản “Lina Hồ” với “Tuyến T2” để phục vụ việc xét xử;
3/ Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.
Riêng người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản sao bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Đoàn Công Quốc |
Bản án số 89/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 89/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
