TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 9 - 2025.
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Văn Hữu;
- Ông Võ Văn hoa Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Mỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị X, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường B, tỉnh Tây Ninh); CCCD [...], cấp ngày 20/12/2024, nơi cấp: Bộ C; (vắng mặt).
Bị đơn: Anh Phạm Phi T, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là tổ G, ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 4 năm 2025, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị X trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Phi T chung sống với nhau vào năm 2025, đến ngày 20/01/2025 đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Trong thời gian chung sống thì không hạnh phúc, thường xuyên xãy ra mâu thuẫn, dẫn đến cải vả nhau nguyên nhân là do anh T đam mê cờ bạc, không quan tâm đến gia đình. Anh T bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, anh chị đã sống ly thân khoảng 02 tháng nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Phi T.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không thiếu nợ ai.
Bị đơn anh Phạm Phi T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án; việc cấp tống đạt văn bản pháp luật và việc tuân thủ quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật tố Tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về hôn nhân: tuyên xử chị Đặng Thị X được ly hôn với anh Phạm Phi T.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T vắng mặt nên không có lời trình bày.
Về nợ chung: Chị X trình bày không thiếu nợ ai.
Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Đặng Thị X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thị X vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; anh Phạm Phi T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hôn nhân: Chị Đặng Thị X và anh Phạm Phi T chung sống năm 2025, đến ngày 20/01/2025 đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nay chị X xin ly hôn. Anh T vắng mặt nên không có lời trình bày. Xét về mâu thuẫn chị X cho rằng vợ chồng sống chung không hạnh phúc, thường xuyên xãy ra mâu thuẫn, dẫn đến cải vả nhau nguyên nhân là do anh T đam mê cờ bạc, không quan tâm đến gia đình. Hiện tại từ khi chị X và anh T phát sinh mâu thuẫn thì anh T về nhà cha mẹ ruột có sinh sống một thời gian, sau đó bỏ đi đâu không rõ; cũng không thấy anh T về nhà chị X sinh sống. Xét thấy thời gian chị X và anh T không sống chung đã lâu, nên mâu thuẫn đã đi đến mức độ trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên chị X yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về con chung: Không có.
[4] Về tài sản chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về nợ chung: Chị X trình bày không thiếu nợ ai.
[6] Xét đề nghị của viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Chị Đặng Thị X phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bảon Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 2, Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Bảon Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Về hôn nhân: Tuyên xử chị Đặng Thị X được ly hôn với anh Phạm Phi T.
- - Về con chung: Không có.
- - Về tài sản chung: Ghi nhận chị Đặng Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Chị Đặng Thị X trình bày không thiếu nợ ai.
- Về án phí: Chị Đặng Thị X phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng mà chị Đặng Thị X đã nộp theo biên lai thu số 0003309 ngày 14/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh).
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho chị X, anh T biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã nơi chị X, anh T cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tuấn |
Bản án số 89/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 89/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị X ly hôn Phạm Phi T
