Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4-BẮC NINH

Bản án số: 89/2025/DS-ST

Ngày 27/9/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vi Thị Hương Giang.
  • Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chu Quốc Đạt;
  • 2. Ông Bùi Thế Vịnh.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4-Bắc Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân khu vực 4-Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4-Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2025/TLST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số: 71/2025/QÐST-DS ngày 09/9/2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 (viết tắt: T2); Địa chỉ: Tòa nhà T, số E L, phường C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền:

  • - Ông Hoàng Anh T – Trưởng bộ phân xử lý nợ;
  • - Ông Nguyễn Trung H – chuyên viên xử lý nợ.
  • Ông Nguyễn Trung H – chuyên viên xử lý nợ.

Địa chỉ: Tòa nhà T, số E L, quận H, thành phố Hà Nội (ông H có mặt).

2. Bị đơn: - Ông Vũ Văn S, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn H, xã T (xã N cũ), tỉnh Bắc Ninh (có đơn xét xử vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn H, xã T (xã N cũ), tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/6/2025, bổ sung ngày 18/7/2025 và các lời khai trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa ông Nguyễn Văn H2 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 05/10/2025, Ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 có ký “điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô”, Ngày 10/10/2025, Ngân hàng TMCP T1-T2 và ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 có ký hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô theo Hợp đồng số 474/2017/HDTD/NHN/01. Số tiền vay: 536.000.000đồng (Năm trăm ba mươi sáu triệu đồng), mục đích: Vay thanh toán tiền mua xe ô tô, thời hạn vay: 72 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân, ngày giải ngân: 11/10/2017.

Lãi suất trong hạn: Lãi suất áp dụng kể từ ngày nhận nợ đầu tiên đến ngày 10/10/2028 là 8.4%/năm; Trong thời gian tiếp theo đến ngày 10/10/2023: Lãi suất bằng lãi suất tiết kiệm loại 12 tháng* tiền VNĐ sáp dụng cho khách hàng cá nhân của T2 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4.8%/năm. Điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần.

Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn tại cùng thời điểm.

Lãi suất chậm trả: Bằng 10% tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, áp dụng khi Khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi vay theo quy định tại Hợp đồng này.

Phương thức trả nợ: Gốc trả đều hàng tháng, lãi vay trả hàng tháng theo dư nợ thực tế, ngày trả nợ: 10 hàng tháng.

Để đảm bảo cho khoản vay của các hợp đồng nêu trên, ông Vũ Văn S - Bà Nguyễn Thị H1 đã thế chấp tài sản cho T2 theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 474/2017/HDTD/NHN/01 ngày 10/10/2017 cụ thể như sau:

Tài sản bảo đảm: Xe ô tô con nhãn hiệu KIA CERATO, màu trắng, số khung G4NAHH402689, số máy 42A6HC107575, biển kiểm soát 98A-151.62.

Các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 028366, do Phòng C1, Công an tỉnh B cấp cho ông Vũ Văn S ngày 05/10/2017.

Trong quá trình vay vốn, bên vay đã thanh toán cho T2 tổng số tiền 342.843.892 đồng (bao gồm 223.333.320 đồng nợ gốc và 119.510.572 đồng nợ lãi). Ngoài ra, bên vay không thanh toán cho T2 thêm bất kỳ khoản tiền nào mặc dù T2 đã nhiều lần đôn đốc, gửi thông báo nợ quá hạn. T2 đã gửi thông báo thu hồi nợ trước hạn để thu hồi trước hạn toàn bộ khoản nợ của ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1. Dư nợ khoản vay của Ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 cả gốc và lãi tính đến ngày xét xử 27/9/2025 là 707.697.717đồng.

Ngân hàng TMCP T1 đề nghị Tòa án giải quyết:

Buộc ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 thanh toán cho T2 tổng số tiền tính đến ngày xét xử 27/9/2025 là: 707.697.717đồng, trong đó bao gồm: nợ gốc là: 312.666.680đồng, nợ lãi trong hạn 72.320.546 đồng, nợ lãi quá hạn 255.908.307 đồng, nợ lãi chậm trả 66.697.717 đồng cho T2.

Trong trường hợp kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực mà ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng T2, Ngân hàng T2 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản sau đây: Tài sản bảo đảm: Xe ô tô con nhãn hiệu KIACERATO, màu trắng, số khung G4NAHH402689, số máy 42A6HC107575, Biển kiểm soát: 98A-151.62 để thu hồi nợ trả cho Ngân hàng T2.

Các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 028366, do Phòng C1, Công an tỉnh B cấp cho ông Vũ Văn S ngày 05/10/2017.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn H2 có mặt giữ nguyên ý kiến đã trình bày trên.

- Bị đơn ông Vũ Văn S trình bày:

Anh đã nhận được thông báo thụ lý vụ án số 64 ngày 23/07/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 4–Bắc Ninh liên quan đến tranh chấp giữa Ngân hàng T2 và vợ chồng anh. Liên quan đến nội dung vụ án anh xin trình bày như sau: Năm 2017 giữa vợ chồng anh (vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975, địa chỉ thôn H, xã K, tỉnh Bắc Ninh) và Ngân hàng TMCP T1 có ký kết hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 474/2017/HDTD/NHN/01. Sau khi ký kết hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng anh đủ số tiền vay 536.000.000 đồng, để đảm bảo khoản vay thì vợ chồng anh đã thế chấp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, BKS 98A-151.62; chi tiết các thỏa thuận được thể hiện trong hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 474/2017/HDTD/NHN/01 ngày 10/10/2017. Sau khi được cán bộ Tòa án cho xem hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số 474/2017/HDTD/NHN/01, anh xác nhận chữ ký trên hợp đồng là chữ ký của anh và vợ là chị Nguyễn Thị H1. Nay Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án buộc vợ chồng anh phải trả cho Ngân hàng TMCP T1 số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 21/05/2025 là 676.244.258 đồng và các khoản phát sinh trên tổng số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 22/05/2025 đến khi vợ chồng tôi thanh toán hết các nghĩa vụ cho T2, quan điểm anh xác nhận số tiền nợ gốc và lãi trên là đúng và đồng ý trả cho Ngân hàng. Trường hợp anh không trả được nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì anh đồng ý để Ngân hàng phát mại chiếc xe ô tô trên của vợ chồng anh để đảm bảo thi hành án.

Anh và chị Nguyễn Thị H1 là vợ chồng, kết hôn năm 1995 nhưng hiện tại cả hai đã sống ly thân từ năm 2019 (chị H1 vẫn đang có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã K, tỉnh Bắc Ninh) hiện cả hai chưa làm thủ tục ly hôn và chưa giải quyết vấn đề nợ chung, tài sản chung.

Liên quan đến tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nhãn hiệu KiaCerato, BKS 98A-151.62, hiện vẫn là tài sản của vợ chồng tôi, do vợ chồng anh trực tiếp quản lý sử dụng.

Tại phiên tòa, do bận công việc nên anh không thể tham gia các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và phiên tòa nên anh xin vắng mặt.

- Bị đơn chị Nguyễn Thị H1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã được tống đạt hợp lệ cho chị H1 và làm việc với ông Nguyễn Văn C là bố đẻ cho biết: Hiện nay con ông đang đi giúp việc tại Hà Nội có liên lạc về nhà, có việc gia đình về xong lại đi làm ngay.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H1 vắng mặt.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà H1 không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 147 BLTTDS; Điều 280, 299, 318, 319, 320, 323, 463; Điều 466 Bộ luật dân sự, Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 37 của Luật hôn nhân gia đình; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T2:

Buộc Ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 thanh toán cho T2 tổng số tiền tính đến ngày xét xử 27/9/2025 là: 707.697.717 đồng, trong đó bao gồm: nợ gốc là: 312.666.680đồng, nợ lãi trong hạn 72.320.546 đồng, nợ lãi quá hạn 255.908.307 đồng, nợ lãi chậm trả 66.697.717 đồng cho T2.

Trong trường hợp kể từ ngày Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực mà ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho T2, T2 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảmsau đây để thu hồi nợ cho T2: Tài sản bảo đảm: Xe ô tô con nhãn

hiệu KIA CERATO, màu trắng, số khung G4NAHH402689, số máy 42A6HC107575, biển kiểm soát 98A-151.62.

- Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thời hiệu khởi kiện: Các hợp đồng tín dụng đã ký vào 201 Ngân hàng nộp đơn khởi kiện, do đó xác định thời hiệu khởi kiện vẫn còn theo quy định tại Điều 429 của Bộ luật dân sự vẫn còn.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 có nơi cư trú xã T, tỉnh Bắc Ninh. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 4-Bắc Ninh là đúng qui định.

[1.3] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Vũ Văn S và chị Nguyễn Thị H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng T2 theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố Tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

[1.4] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn. Bị đơn anh S có xin vắng mặt tại phiên toà, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố Tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn là đúng qui định của pháp luật.

2. Xét về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T2:

Ngày 05/10/2025, ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 có ký “điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô”, Ngày 10/10/2025, Ngân hàng TMCP T1-T2 và ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 có ký hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô theo Hợp đồng số 474/2017/HDTD/NHN/01. Số tiền vay: 536.000.000đồng, ông S đã trả số tiền gốc là: 223.333.320 đồng, còn nợ lại tiền gốc là: 312.666.680đồng.

ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 thanh toán cho T2 tổng số tiền tính đến ngày xét xử 27/9/2025 là: 707.697.717đồng, trong đó bao gồm: nợ gốc là: 312.666.680đồng, nợ lãi trong hạn 72.320.546 đồng, nợ lãi quá hạn 255.908.307 đồng, nợ lãi chậm trả 66.697.717 đồng cho T2.

Xét tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản: Lời khai của nguyên đơn là phù hợp với các tài liệu do các đương sự cung cấp. Bị đơn anh S có đến Tòa án làm việc, bị đơn chị H1 không đến Tòa án, không gửi ý kiến, chứng cứ đến Tòa án được coi là tự từ bỏ quyền lợi của mình. Từ đó có căn cứ để xác định khi giao kết hợp đồng, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện. Nội dung, hình thức của hợp đồng phù hợp với pháp luật, mục đích giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự 2015. Do đó các hợp đồng trên đều phát sinh hiệu lực đối với tất cả các bên tham gia vào hợp đồng.

Về việc thực hiện hợp đồng: Theo các tài liệu do nguyên đơn cung cấp sau khi giao kết hợp đồng, bên cho vay đã giải ngân số tiền vay theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng T2 và anh S, chị H1. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả gốc, lãi theo các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia khi giao kết hợp đồng tín dụng, bên cạnh đó các hợp đồng đã ký đều đã chuyển sang nợ quá hạn, do đó Ngân hàng có quyền yêu cầu thu hồi nợ trước hạn là có căn cứ pháp lý, phù hợp với quy định tại các điều khoản của hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ.

Về nghĩa vụ trả nợ: Xác định số tiền vay trên là nợ chung của vợ chồng anh S, chị H1 trong thời kỳ hôn nhân nên cần buộc anh S, chị H1 cùng có trách nhiệm trả nợ là phù hợp với các Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Từ những tài liệu, chứng cứ đã phân tích nêu trên và theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố Tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Toà án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”, Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên cần chấp nhận: Buộc anh Vũ Văn S, chị Nguyễn Thị H1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vay theo các hợp đồng đã ký kết: Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 474/2017/HDTD/NHN/01 ngày 10/10/2017, tổng số tiền tính đến ngày xét xử 27/9/2025 là: 707.697.717 đồng, trong đó bao gồm: nợ gốc là: 312.666.680đồng, nợ lãi trong hạn 72.320.546 đồng, nợ lãi quá hạn 255.908.307 đồng, nợ lãi chậm trả 66.697.717 đồng cho Ngân hàng T2.

Buộc ông S, chị H1 phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng, các điều khoản đã ký kết.

[3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp:

Như đã phân tích ở trên thì các hợp đồng thế chấp là hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng. Từ những phân tích và nhận định nêu trên đủ căn cứ xác định, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên. Vì vậy trường hợp vợ chồng ông S, bà H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp là: Tài sản bảo đảm: Xe ô tô con nhãn hiệu KIA CERATO, màu trắng, số khung G4NAHH402689, số máy 42A6HC107575, biển kiểm soát 98A-151.62 mà các bên đã ký kết để thu hồi nợ là phù hợp quy định của pháp luật.

[4]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc ông S, bà H1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do ngân hàng đã thanh toán chi phí thẩm định tại chỗ nên buộc ông S, bà H1 phải trả lại cho Ngân hàng số tiền là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

[5]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận với tổng số tiền gốc và lãi theo các hợp đồng tín dụng là: 707.697.717 đồng, nên buộc ông S, bà H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016, cụ thể: điểm c mục 1,3 – II án phí dân sự, từ 400.000.000đ đến 800.000.000₫=20.000.000₫ x 4% của phần trị giá tài sản tranh chấp vượt 400.000.000₫ = 32.307.908đ. Trả lại Ngân hàng tiền án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 3 Điều 144, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 299, Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 (T2):

1. Về nghĩa vụ trả nợ: Buộc ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ trả 707.697.717 đồng, trong đó: Nợ gốc là: 312.666.680đồng, nợ lãi trong hạn 72.320.546 đồng, nợ lãi quá hạn 255.908.307 đồng, nợ lãi chậm trả 66.697.717 đồng cho Ngân hàng thương mại cổ phần T1 (T2) theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 474/2017/HDTD/NHN/01 ngày 10/10/2017.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (27/9/2025) thì ngoài số tiền phải trả trên ông S, bà H1 còn phải trả tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ.

Trường hợp ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 không trả được nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết thì có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng T2 đối với tài sản đã thế chấp: Xe ô tô con nhãn hiệu KIA CERATO, màu trắng, số khung G4NAHH402689, số máy 42A6HC107575, biển kiểm soát 98A-151.62 theo đăng ký xe mang tên ông Vũ Văn S.

2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho Ngân hàng T2 số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

3. Về án phí: Buộc ông ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 32.307.908đ (đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 số tiền 15.524.800 đồng đã tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003073 ngày 23/7/2025 tại Phòng thị hành án dân sự khu vực 4-Bắc Ninh.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án

dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND KV4-Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS KV4-Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vi Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/DS-ST ngày 27/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 89/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Tiên Phong - ông Sơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger