Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 88/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19-11-2025.

V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Lâm Sơn và bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Phương Vy, Thư ký Tòa án nhân dân, tỉnh khu vực 11 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 –An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 –An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 316/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: ông Nguyễn NT, sinh năm 1982, cư trú: ấp Tấn Hưng, xã Cù Lao Giêng, tỉnh An Giang, chỗ ở hiện nay: k2, xã CG, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

Bị đơn: bà Trần Thị Thúy A, sinh năm 1984, cư trú: ấp TH, xã CLG, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai nguyên đơn ông Nguyễn NT trình bày:

Ông và bà Trần Thị Thúy A cưới nhau vào năm 2000 có đăng ký kết hôn tai Ủy ban nhân dân xã TM (nay là xã CLG), tỉnh An Giang, hôn nhân do ông bà tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Vợ chồng chung sống sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, được cha mẹ hai bên hàn gắn vợ chồng chung sống đến năm 2020 thi tiếp tục mâu thuẫn và đã ly thân khoảng 05 năm nay. Thấy tình cảm vợ chồng không còn, ông yêu cầu ly

hôn với bà Trần Thị Thúy A; về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Bá T, sinh ngày 15/9/2002 đã thành niên không yêu cầu tòa án giải quyết và Nguyễn Trần Anh D, sinh ngày 11/4/2008. Hiện cháu D đang sống với ông Tiến. Sau khi ly hôn ông T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trần Anh D, sinh ngày 11/4/2008, không yêu cầu vợ cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Trần Thị Thúy A trình bày:

Bà và ông T tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân vào năm 2000, có đăng kí kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tấn Mỹ (nay là Ủy ban nhân dân xã CLG), tỉnh An Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do chồng có người phụ nữ khác, nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chồng yêu cầu ly hôn bà đồng ý. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Bá T, sinh ngày 15/9/2002 đã thành niên không yêu cầu tòa án giải quyết và Nguyễn Trần Anh D, sinh ngày 11/4/2008. Hiện cháu D đang sống với cha, bà A đồng ý để ông Tiến được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Anh D, sinh ngày 11/4/2008; Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời bà yêu cầu tòa án cho bà được vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải xét xử cho đến khi kết thúc kiện.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  • * Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
  • Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • * Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
  • Đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.
  • * Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
  • Đối với nguyên đơn: ông Nguyễn NT đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự
  • Đối với bị đơn: Bà Trần Thị Thúy A đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời có đơn xin xét xử vắng theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  • - Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn NT với bà Trần Thị Thúy A.
  • - Ông Tiến được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Anh

Dương, sinh ngày 11/4/2008, bà An không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

[1]. Ông Nguyễn NT có đơn yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị Thúy A, bà An cư trú ấp Tấn Hưng, xã Cù Lao Giêng, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang.

[2]. Bị đơn bà Trần Thị Thúy A có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

* Về nội dung:

[3]. Về hôn nhân: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc và bà Trần Thị Thúy A cưới nhau vào năm 2000 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của ông bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ

Ông Tiến trình bày vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên đã sống ly thân khoảng 5 năm không tới lui thăm nhau. Ông xác định tình cảm không còn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trần Thị Thúy A.

Bà Trần Thị Thúy A trình bày: Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do chồng có người phụ nữ khác, nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay không tới lui thăm nhau. Nay chồng yêu cầu ly hôn bà đồng ý.

[3.2]. Hội đồng xét xử xét thấy: ông Nguyễn NT và bà Trần Thị Thúy A xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2000. Thời gian chung sống hai người phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và đã không còn chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay, cả hai không quan tâm đến nhau. Nay ông Tiến yêu cầu ly hôn, bà An đồng ý, do đó Hội đồng xét xử cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông ông Nguyễn NT và bà Trần Thị Thúy A.

[4]. Về con chung: Ông Nguyễn NT và bà Trần Thị Thúy A xác định ông, bà có 02 con chung tên Nguyễn Bá Thanh, sinh ngày 15/9/2002 (đã thành niên)

và Nguyễn Trần Anh D, sinh ngày 11/4/2008. Hiện cháu Dương đang sống cùng ông Tiến. Ông T và bà A đề thống nhất để ông Tiến được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyến Trần Anh D. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, phát triển cũng như nguyện vọng của con. Từ lúc vợ chồng ly thân đến nay ông Tiến là người trực tiếp nuôi con chung nên tình cảm, tâm tư gắn liền với người nuôi dưỡng, thời gian chung sống với ông Tiến cháu Dương vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và được ông Tiến tạo điều kiện cho đi học. Mặc khác tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu D, qua ghi nhận cháu D có nguyện vọng tiếp tục sống với cha. Do đó, cần để ông Tiến tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cũng như nguyện vọng của con. Riêng đối với cháu Nguyễn Bá T, ông T, bà An xác định đã thành niên không yêu cầu tóa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Do ông Nguyễn NT không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5]. Về tài sản chung: do ông Nguyễn NT và bà Trần Thị Thúy A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về nợ chung: do ông Nguyễn NT và bà Trần Thị Thúy A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Về án phí: ông Nguyễn NT phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Các Điều 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
  • - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn NT.
  • Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của ông Nguyễn NT và bà Trần Thị Thúy A.
  • Về con chung: Ông Nguyễn NT được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Anh D, sinh ngày 11/4/2008; bà Trần Thị Thúy A không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn NT cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Trần Thị Thúy A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Ông Nguyễn NT phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai thu số 0002543 do Phòng thi hành án dân sự khu vực 11, tỉnh An Giang cấp ngày 29 tháng 9 năm 2025. Ông Nguyễn NT đã nộp xong.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh An Giang;
  • -VKSND khu vực 11;
  • -Phòng Thi hành án KV11;
  • -UBND thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HNGĐ-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 88/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông và bà Trần Thị Thúy A cưới nhau vào năm 2000 có đăng ký kết hôn tai Ủy ban nhân dân xã TM (nay là xã CLG), tỉnh An Giang, hôn nhân do ông bà tự tìm hiểu và được cha mẹ đồng ý. Vợ chồng chung sống sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, được cha mẹ hai bên hàn gắn vợ chồng chung sống đến năm 2020 thi tiếp tục mâu thuẫn và đã ly thân khoảng 05 năm nay. Thấy tình cảm vợ chồng không còn, ông yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị Thúy A; về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Bá T, sinh ngày 15/9/2002 đã thành niên không yêu cầu tòa án giải quyết và Nguyễn Trần Anh D, sinh ngày 11/4/2008. Hiện cháu D đang sống với ông Tiến. Sau khi ly hôn ông T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Trần Anh D, sinh ngày 11/4/2008, không yêu cầu vợ cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn bà Trần Thị Thúy A trình bày: Bà và ông T tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân vào năm 2000, có đăng kí kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tấn Mỹ (nay là Ủy ban nhân dân xã CLG), tỉnh An Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do chồng có người phụ nữ khác, nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chồng yêu cầu ly hôn bà đồng ý. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Bá T, sinh ngày 15/9/2002 đã thành niên không yêu cầu tòa án giải quyết và Nguyễn Trần Anh D, sinh ngày 11/4/2008. Hiện cháu D đang sống với cha, bà A đồng ý để ông Tiến được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Anh D, sinh ngày 11/4/2008; Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời bà yêu cầu tòa án cho bà được vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải xét xử cho đến khi kết thúc kiện.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger