Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – LẠNG SƠN

Bản án số: 87/2025/HS-ST

Ngày 10-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Hoàng Thị Mơ.
  • Ông Dương Việt Hưng.

- Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Hồng Trâm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kỳ Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2025/TLST-HS, ngày 11 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 11 năm 2025; Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 32/2025/HSST-QĐ ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đối với các bị cáo:

1. Lục Văn T (tên gọi khác: Lục Văn T1), sinh ngày 10/11/1975 tại tỉnh Lạng Sơn; Căn cước công dân số [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn B và bà Triệu Thị M (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T2 (đã chết) và 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/8/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử 08 năm tù về tội Mua bán người theo Bản án số 37/2012/HS-ST, đến ngày 31/8/2015 được trả tự do theo quyết định đặc xá của Chủ tịch nước; ngày 27/10/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 49/2020/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù ngày 13/4/2021; ngày 28/01/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 03/2022/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù ngày 02/02/2023; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 104 ngày 26/02/1997 của Công an tỉnh L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” bằng hình thức phạt tiền 200.000 đồng; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 252/QĐ-XPHC ngày 24/12/2021 của Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng (đều đã chấp hành xong và được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L từ ngày 05/9/2025 đến nay. Có mặt.

2. Lục Văn Đ, sinh ngày 03/01/1998 tại tỉnh Lạng Sơn; Căn cước công dân số [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lục Văn T, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị T2 (đã chết); chưa có vợ con; tiền án: Ngày 15/8/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 36/2024/HS-ST (chấp hành án xong ngày 19/12/2024, chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 07/2021/HS-ST; ngày 09/7/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 36/2021/HS-ST (đều đã chấp hành xong và được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L từ ngày 06/9/2025 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 và ông Vũ Văn K, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn; địa chỉ liên hệ: Thôn C, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. Đều vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh T3, sinh năm 2004; địa chỉ: Khu G, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2022, Lục Văn T làm thuê phụ hồ cho gia đình bà Nguyễn Thị H. Đến khoảng tháng 6/2025, do hết việc làm nên chồng bà H là anh Vũ Văn K, bảo T kéo máy trộn bê tông tươi về nhà 01 người bán hàng bún ở sát nhà K tại khu D, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn để nhờ; xong việc T về nhà tại xã V, tỉnh Lạng Sơn. Đến chiều ngày 04/7/2025, T cùng con trai là Lục Văn Đ lên xã Đ tìm việc làm thì thấy chiếc máy trộn bê tông của gia đình bà H vẫn đang để tại vị trí cũ nên T nảy sinh ý định lấy trộm để bán lấy tiền tiêu. Khoảng 09 giờ ngày 07/7/2025, T bảo với Đ cùng đi lấy trộm chiếc máy trộn bê tông để bán lấy tiền thì Đ đồng ý. Sau đó, T cùng Đ đi bộ đến cửa hàng thu mua phế liệu của Nguyễn Minh T3, hỏi giá bán thì T3 đồng ý mua. Sau đó Đ ngồi đợi ở cửa hàng, còn T đưa T3 đi xem máy, T bảo chiếc máy trộn bê tông này của mình không còn sử dụng nữa. Sau khi xem xong máy, T3 trả giá tiền mua là 1.000.000 đồng, T đồng ý và cùng T3 quay về cửa hàng. Tiếp đó, T3 đi xe máy chở Đ đi đến vị trí để máy trộn bê tông và cùng nhau kéo lấy máy về. Sau khi lấy được máy về đến cửa hàng, T3 đưa cho T 1.000.000 đồng tiền mặt. Sau đó, T cùng Đ rời đi và tiêu hết số tiền trên. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, bà H phát hiện đã bị mất chiếc máy trộn bê tông trên nên đã trình báo Công an.

Ngày 07/7/2025, Cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Minh T3: 01 máy trộn bê tông nghiêng, màu sơn đỏ, máy đã qua sử dụng, ký hiệu loại 380L, tốc độ 26V/ph, công suất 06 mã lực, năng suất 4m³/h, do Công ty TNHH S sản xuất.

Tại Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 23/7/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lạng Sơn kết luận: 01 máy trộn bê tông nghiêng, màu sơn đỏ, máy đã qua sử dụng, ký hiệu loại 380L, tốc độ 26V/ph, công suất 06 mã lực, năng suất 4m³/h, do Công ty TNHH S sản xuất, trị giá 3.383.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSKV1 ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lục Văn T, Lục Văn Đ về tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo thừa nhận do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên trộm cắp máy trộn bê tông của bị hại đi bán lấy tiền tiêu sài.

Công bố lời khai và đơn xin xử vắng mặt của bị hại bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Văn K vắng mặt tại phiên tòa, các bị hại thừa nhận mất chiếc máy trộn bê tông do các bị cáo trộm cắp và nay đề nghị xin lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh T3 vắng mặt và có ý kiến không đề nghị lấy lại số tiền 1.000.000 đồng, ông không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.

Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lục Văn T, Lục Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lục Văn T 10 đến 15 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lục Văn Đ 10 đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị hại bà Nguyễn Thị H, ông Vũ Văn K 01 máy trộn bê tông nghiêng, màu sơn đỏ, máy đã qua sử dụng, ký hiệu loại 380L, tốc độ 26V/ph, công suất 06 mã lực, năng suất 4m³/h, do Công ty TNHH S sản xuất; các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.

Trong phần tranh luận, các bị cáo nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng, các bị cáo trình bày đã ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hình phạt nhẹ nhất để được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên toà, vắng mặt bị hại bà Nguyễn Thị H, ông Vũ Văn K; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh T3. Hội đồng xét xử xét thấy bị hại và người liên quan vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.

[3] Xét lời khai nhận thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 07/7/2025, bị cáo Lục Văn T và Lục Văn Đ khai có hành vi trộm cắp 01 máy trộn bê tông của bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Văn K có giá trị 3.383.000 đồng là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vật chứng được thu thập một cách hợp pháp. Hành vi này của các bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của các bị cáo và để có mức án phù hợp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm khách thể là quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ; các bị cáo đều đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, các bị cáo phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt. Để cá thể hoá hình phạt đối với từng bị cáo, cần đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của từng bị cáo, thấy rằng:

[5] Về tính chất vụ án, thì đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, bị cáo Lục Văn T là người khởi xướng, rủ rê, còn bị cáo Lục Văn Đ là người cùng thực hành. Mặt khác, bị cáo Lục Văn T là cha đẻ của bị cáo Lục Văn Đ. Hành vi của bị cáo Lục Văn T rủ con đi trộm cắp không những vi phạm pháp luật mà còn vi phạm cả đạo đức, xã hội. Đồng thời, bị cáo Lục Văn Đ biết hành vi này là vi phạm pháp luật, không khuyên can mà nhất trí với bố mình và thực hiện hành vi phạm tội. Xét về vai trò thì bị cáo Lục Văn T cao hơn bị cáo Lục Văn Đ.

[6] Xét đặc điểm về nhân thân, các bị cáo Lục Văn T và Lục Văn Đ đều có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài tình tiết định khung, bị cáo Lục Văn T không có tình tiết tăng nặng nào khác, nhưng bị cáo Lục Văn Đ có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, số tiền chiếm đoạt và gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được thu hồi nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Lục Văn T được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Xét thấy, các bị cáo đã bị xử phạt nhiều lần về hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, vừa để cải tạo, giáo dục riêng và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung cho xã hội.

[7] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Minh T3 không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền 1.000.000 đồng và đề nghị không xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bị hại bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Văn K ngoài đề nghị xin lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử cũng không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần trả lại cho bị hại tài sản bị chiếm đoạt.

[10] Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo cơ bản là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lục Văn T.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lục Văn Đ.

Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106; khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lục Văn T, Lục Văn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt
    1. Xử phạt bị cáo Lục Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/9/2025.
    2. Xử phạt bị cáo Lục Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06/9/2025.

    Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  3. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị hại bà Nguyễn Thị H, ông Vũ Văn K 01 máy trộn bê tông nghiêng, màu sơn đỏ, máy đã qua sử dụng, ký hiệu loại 380L, tốc độ 26V/ph, công suất 06 mã lực, năng suất 4m³/h, do Công ty TNHH S sản xuất.

    (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Lạng Sơn).

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Lục Văn T, Lục Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND khu vực 1 - Lạng Sơn;
  • - CQ THAHS Công an T. Lạng Sơn;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an T. Lạng Sơn;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Lạng Sơn;
  • - Bị cáo; bị hại; NLQ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Bẩy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 87/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lục Văn T và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger