|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH Bản án số: 87/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 12 - 2025 V/v: Ly hôn giữa chị Thu và anh Khôi |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Minh
- Ông Đỗ Văn Cận
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Vũ Quốc Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QÐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1998; địa chỉ: Xóm A, xã C, tỉnh Ninh Bình;
- - Bị đơn: Anh Phan Văn K, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn C, xã X, tỉnh Ninh Bình.
- - Người làm chứng: Ông Phan Văn H, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn C, xã X, tỉnh Ninh Bình.
(Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh K, ông H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/8/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Vũ Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Văn K tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 9 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã X (xã X cũ), tỉnh Ninh Bình. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân khoảng đầu năm 2024 đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, không thể hàn gắn đoàn tụ nên chị xin ly hôn anh K.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ nần liên quan kinh tế với ai nên chị không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn anh Phan Văn K vắng mặt và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
Tại biên bản ghi lời khai ông Phan Văn H là bố đẻ anh Phan Văn K thể hiện: Chị T và anh K tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, gia đình ông đã động viên khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị T và anh K sống ly thân, không quan tâm tới nhau đã hai năm nay. Khi chị T làm đơn ly hôn, chị T đã nói chuyện với anh K. Sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án đối với anh K, ông đều thông báo ngay cho anh K biết, do anh K bận công việc làm ăn nên không về Tòa án làm việc được, anh nhờ ông trình bày với Tòa án: anh K cũng xác định vợ chồng sống không hạnh phúc, anh hoàn toàn nhất trí ly hôn chị T. Anh K và chị T không có con chung, không có tài sản chung, không nợ nần liên quan kinh tế với ai, anh K đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.
Kết quả thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã X như sau: Đương sự trình bày về việc kết hôn tại UBND xã là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân. Nay chị T xin ly hôn, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và người làm chứng, đề nghị Toà án giải quyết cho chị T ly hôn anh K. Vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng, quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn chưa chấp hành đúng nghĩa vụ tham gia tố tụng. Về việc giải quyết vụ án, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử ly hôn giữa chị T và anh K. Đương sự phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh K kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình, bất đồng về quan điểm và đã sống ly thân 02 năm nay. Nay chị T xin ly hôn, mặc dù anh K không đến Tòa án làm việc, tuy nhiên tại biên bản ghi lời khai của ông H là bố đẻ anh K cũng đã thể hiện rõ ý kiến, nguyện vọng của anh K là hoàn toàn nhất trí ly hôn chị T. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh K là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị T và anh K theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị T và anh K không có con chung.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị T và anh Phan Văn K.
- Về án phí: Chị Vũ Thị T phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo Biên lai thu số 0001375 ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình; chị Vũ Thị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị T và anh Phan Văn K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Cúc |
Bản án số 87/2025/HNGĐ-ST ngày 10/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 87/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị T và anh K
