|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 86/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 – 9 – 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐĂK LĂK
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Cảm.
- Ông Trần Văn Châu.
Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại phòng xử án - Toà án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 364/2025/TLST-HNGĐ ngày 29/5/2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QÐST-HNGĐ, ngày 09/9/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1994 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố B (phường K cũ), phường T, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Bà Lê Thị Bích H, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố B (phường K cũ), phường T, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn, ông Nguyễn Thanh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Lê Thị Bích H tìm hiểu yêu thương nhau tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có ký kết hôn tại UBND phường K, thành phố B vào ngày 19 tháng 6 năm 2018.
Sau khi về chung sống hạnh phúc một thời gian thì đến năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên tôi có nguyện vọng xin được ly hôn với bà Lê Thị Bích H.
Về con chung: Tôi và bà H có 01 con chung là: Cháu Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2019, tôi có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ tuổi thành niên và không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk trình bày:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ trông chấp, đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã tuân thủ đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2015/QH15;
Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T được ly hôn với bà Lê Thị Bích H.
- Về con chung:
Giao cháu Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2019 cho ông Nguyễn Thanh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tới khi các cháu đủ 18 tuổi.
Bà Lê Thị Bích H có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị Bích H, địa chỉ cư trú tại phường T, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2015/QH15, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.
Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T có Đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Lê Thị Bích H vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T và bà Lê Thị Bích H chung sống trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường K, thành phố B vào ngày 19 tháng 6 năm 2018 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Ông Nguyễn Thanh T và bà Lê Thị Bích H chung sau khi về chung sống với nhau thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo ông Nguyễn Thanh T trình bày: do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết:
“Quá trình chung sống thì ông T, bà H phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ông T không yêu cầu hòa giải tại địa phương."
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc ông Nguyễn Thanh T xét thấy không còn tình cảm với bà Lê Thị Bích H, vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống, dẫn đến mâu thuẫn cuộc sống kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của ông Nguyễn Thanh T, cho ông Nguyễn Thanh T được ly hôn với bà Lê Thị Bích H.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông Nguyễn Thanh T và bà Lê Thị Bích H có có 01 con chung là: Cháu Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2019.
Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Thanh T có nguyện vọng xin được nuôi cháu Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2019. Vì vậy, cần giao cháu Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2019 cho ông Nguyễn Thanh T nuôi dưỡng là phù hợp. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2019 cho ông Nguyễn Thanh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2015/QH15;
Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ: Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T được ly hôn với bà Lê Thị Bích H.
-
Về con chung:
Giao cháu Nguyễn Lê Hoài N, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2019 cho ông Nguyễn Thanh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tới khi đủ 18 tuổi.
Bà Lê Thị Bích H có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0001557 ngày 27/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Đắk Lắk).
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 86/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 86/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
