TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
-
Bản án số: 85/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 9 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc An.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hữu Nghĩa;
- Bà Trần Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Hoàng Nhi – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2025/TLST–HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Minh N, sinh năm 1989;
- Bị đơn: Chị Trịnh Thị D, sinh năm 1993;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã L, tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh; CCCD: [...], Cục C về trật tự xã hội cấp ngày 11/8/2021; vắng mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp D, xã T, tỉnh Tây Ninh; CCCD: [...], Cục C về trật tự xã hội cấp ngày 09/8/2021; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – anh Lê Minh N trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Trịnh Thị D chung sống vợ chồng từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, nhưng từ năm 2023 anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do chị D thường xuyên tham gia đánh bạc qua mạng, gây ra rất nhiều khoản nợ, anh đã nhiều lần trả nợ cho chị D và khuyên ngăn nhưng không có kết quả, chị D không quan tâm chăm sóc gia đình, con chung mà chỉ ham chơi. Chị D đã bỏ nhà đi từ tháng 12/2024, bỏ lại 02 con chung cho anh nuôi dưỡng. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị Trịnh Thị D.
- Về con chung: Anh và chị Trịnh Thị D có hai con chung là cháu Lê Minh T, sinh ngày 08/7/2022 và cháu Lê Ngọc Minh V, sinh ngày 19/5/2024. Hiện nay hai cháu đang sống cùng anh. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi 02 cháu không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Trịnh Thị D: Đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án nhiều lần để cung cấp lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vụ án nhưng chị D đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
- * Nguyên đơn anh Lê Minh N: có đơn xin vắng mặt.
- * Bị đơn chị Trịnh Thị D: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do.
- * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng (nguyên đơn anh N) trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã tuân thủ theo trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do tại phiên tòa.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ theo quy định tại các Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh N, anh N được ly hôn với chị Trịnh Thị D.
Về con chung: Giao cháu Lê Minh T, sinh ngày 08/7/2022 và cháu Lê Ngọc Minh V, sinh ngày 19/5/2024 cho anh Lê Minh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận anh N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: anh Lê Minh N chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh N có đơn xin xét xử vắng mặt; chị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N và chị D.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh N và chị D chung sống với nhau năm 2021, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là xã T, tỉnh Tây Ninh) ngày 02/6/2021, giấy chứng nhận kết hôn số 41 (bút lục số 04). Căn cứ Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân giữa anh N và chị D là hợp pháp. Căn cứ vào trình bày của anh N và các tài liệu thu thập được, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cuộc sống vợ chồng của anh N và chị D đã phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2023 do chị D không quan tâm chăm sóc gia đình, con chung mà chỉ ham chơi, gây ra nhiều khoản nợ và chị D đã bỏ nhà đi từ tháng 12/2024, bỏ lại 02 con chung cho anh N nuôi dưỡng từ đó đến nay. Do đó, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa anh N và chị D ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N đối với chị D.
[2.2] Về con chung: Anh N và chị D có hai con chung là cháu Lê Minh T, sinh ngày 08/7/2022 và cháu Lê Ngọc Minh V, sinh ngày 19/5/2024, đang sống chung với anh N. Xét yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung của anh N thấy rằng, các cháu T và V đang sinh sống ổn định với anh N, từ khi chị D bỏ nhà đi cho đến nay, chị D không thực hiện nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc các con; anh D hiện có công việc và thu nhập ổn định hàng tháng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu T và V, căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao các cháu T và V cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận anh N không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận anh Lê Minh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: Anh Lê Minh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Do đó đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “tranh chấp ly hôn, nuôi con” của anh Lê Minh N đối với chị Trịnh Thị D.
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Minh N được ly hôn với chị Trịnh Thị D.
- - Về con chung: Giao cho anh Lê Minh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Lê Minh T, sinh ngày 08/7/2022 và cháu Lê Ngọc Minh V, sinh ngày 19/5/2024. Ghi nhận anh N không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung; anh N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Chị D không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Minh N không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Minh N phải chịu án dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002323 ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 – Tây Ninh); anh N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Anh N và chị D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại UBND xã (phường), nơi cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc An |
Bản án số 85/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 85/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
