Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 830/2025/HS-PT

Ngày: 19-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lâm

    Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;

Ông Trương Văn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ sở 2), xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 690/2025/TLPT-HS, ngày 06/11/2025 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của Lê Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2025/HS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo: Lê Văn T, sinh năm 1991, tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi thường trú: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã C, tỉnh Hà Tĩnh); chỗ ở: Số A, đường H, khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn Đ (đã chết) và bà Dương Thị C, sinh năm 1962; vợ tên Nguyễn Thị T1, sinh năm 1994; có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2025 đến ngày 10/6/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T là công nhân kỹ thuật điện ô tô của Công ty F thuộc Khu chế xuất T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng cuối tháng 3/2025, Lê Văn T quen biết một người đàn ông tên Phan Văn N trong lúc đi câu cá ở đường Đ, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) nên T kết bạn Zalo với N thông qua mã QR do N cung cấp, nhưng không lưu trong điện thoại của T.

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 05/4/2025, T đi nhậu với N tại quán Ốc (không rõ tên) trên đường H gần cầu P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh). Trong lúc nhậu N tự giới thiệu với T là đang làm Công an, hiện công tác ở phường T, Quận G, thành phô H, đồng thời N lấy trong ví 01 (một) Giấy chứng minh Công an nhân dân đưa cho T xem và nói với T “Tao có cái này đi đường an tâm, mày thích không tao làm cho một cái”, Lê Văn T nghe vậy liền trả lời “Ok anh làm cho em một cái” rồi T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đen của T để gửi thông tin cá nhân và hình ảnh của T qua ứng dụng Zalo cho N để làm Giấy chứng minh Công an nhân dân. Đến khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 10/4/2025 N hẹn T đi nhậu tại quán Ốc mà lúc trước cả hai cùng ngồi nhậu. Trong lúc nhậu N lấy 01 (Một) Giấy chứng minh Công an nhân dân có thông tin: “Số 471-718, mang tên Lê Văn T, ngày sinh: 09/07/1991, cấp bậc: Cấp ủy, chức vụ: Sĩ quan nghiệp vụ, đơn vị: PA09 C1, cấp ngày 08/11/2020 do Thiếu tướng Lê Hồng N1 ký” đưa cho T, rồi nói “Mày cất đi và đưa cho tao 1.000.000 đồng để tao đưa cho người ta”, T lấy giấy chứng minh Công an nhân dân cất vào túi áo khoác rồi đưa cho N 1.000.000 đồng tiền mặt.

Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 25/4/2025, Lê Văn T điều khiển xe ô tô biển số 38A-323.39 lưu thông trên đường N thuộc khu phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) thì gặp Tổ công tác của Trạm Cảnh sát giao thông Quốc lộ A yêu cầu dừng xe kiểm tra nồng độ cồn. Sau khi đo nồng độ cồn bằng máy xác định trong hơi thở của T có nồng độ cồn vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/l khí thở (0.312mg/L khí thở). Tổ tuần tra kiểm soát yêu cầu T xuất trình các giấy tờ có liên quan, gồm: 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C, số 790106256051; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 38A- 323.39, số 045558; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số DA3431947, đồng thời T xuất trình thêm 01 (Một) Giấy chứng minh Công an nhân dân, số 471-718, mang tên Lê Văn T, ngày sinh 09/07/1991, cấp bậc: Cấp úy, chức vụ: Sĩ quan nghiệp vụ, đơn vị: PA09 C1, cấp ngày 08/11/2020 do Thiếu tướng Lê Hồng N1 ký và nói với thành viên Tổ công tác “Hiện đang làm việc tại phòng PA09 Công an Thành phố H và mong tổ tuần tra kiểm soát bỏ qua lỗi vi phạm” nhưng Tổ công tác không đồng ý và tiến hành liện hệ với Công an thành phố H để xác minh. Lúc này, T thừa nhận giấy Chứng minh Công an nhân dân vừa xuất trình là giả, đồng thời giao nộp 01 (một) còng số 8 cho tổ công tác.

Cùng ngày, Công an phường A đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn T và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (Một) điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh đen, số máy MG9J3LL/A, số seri G0NFT5AC0D46, gắn sim số: 0766.311.311;
  • - 01 (Một) còng số 8 (trên thân còng có ghi dòng chữ BỘ CÔNG AN KC);
  • - 01 (Một) giấy chứng minh Công an nhân dân, số 471-718, mang tên Lê Văn T, ngày sinh: 09/07/1991, cấp bậc: Cấp úy, chức vụ: Sĩ quan nghiệp vụ, đơn vị: PA09 C1, cấp ngày 08/11/2020 do Thiếu tướng Lê Hồng N1 ký.

Ngày 26/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 (Một) giấy chứng minh Công an nhân dân, số 471-718, mang tên Lê Văn T gửi Phòng K Công an tỉnh B

* Tại Kết luận giám định số 1917/KL-KTHS(TL) ngày 26/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: 01 (Một) giấy chứng minh Công an nhân dân, số 471-718, mang tên Lê Văn T, ngày sinh: 09/07/1991, cấp bậc: Cấp úy, chức vụ: Sĩ quan nghiệp vụ, đơn vị: C1, cấp ngày 08/11/2020 (ký hiệu 4) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.

Ngày 28/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có công văn gửi Phòng Tổ chức cán bộ và Phòng An ninh điều tra Công an Thành phố H về việc xác minh cán bộ, chiến sỹ.

Ngày 15/5/2025, Phòng An ninh điều tra Công an Thành phố H có văn bản trả lời với nội dung: Phòng PA09 không có cán bộ, chiến sĩ tên Lê Văn T, sinh năm 1991 công tác tại đơn vị.

Ngày 19/5/2025, Phòng Tổ chức cán bộ Công an Thành phố H có văn bản trả lời với nội dung: Căn cứ dữ liệu thông tin cán bộ chiến sỹ của Công an Thành phố H (tính đến ngày 19/5/2025) không có trường hợp nào tên “Lê Văn T, sinh ngày 09/07/1991, số hiệu 471-718” công tác tại Công an Thành phố H.

* Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (Một) điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh đen, số máy MG9J3LL/A, số seri G0NFT5AC0D46, gắn sim số: 0766.311.311 là điện thoại Lê Văn T sử dụng để liên lạc với đối tượng N để đặt làm giả tài liệu nên cần tịch thu Sung vào Ngân sách Nhà nước đối với điện thoại và tịch thu tiêu hủy đối với sim số 0766.311.311.

Đối với 01 (Một) còng số 8 (trên thân còng có ghi dòng chữ BỘ C2), quá trình điều tra T khai nhận là của đối tượng Phan Văn N đưa cho T vào ngày 10/4/2025, Công an phường A đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ trái phép.

Đối với 01 (Một) giấy chứng minh Công an nhân dân, số 471-718, mang tên Lê Văn T, ngày sinh: 09/07/1991, cấp bậc: Cấp úy, chức vụ: Sĩ quan nghiệp vụ, đơn vị: PA09 C1, cấp ngày 08/11/2020 do Thiếu tướng Lê Hồng N1 ký là tài liệu giả nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

* Đối với Phan Văn N là người làm giả Chứng minh Công an nhân dân cho Lê Văn T, việc liên hệ với N là qua Zalo tuy nhiên sau khi nhận được Giấy chứng minh Công an nhân dân thì T đã xóa Z và hủy kết bạn, đồng thời Phòng tổ chức cán bộ Công an Thành phố H và Công an phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xác định không có cán bộ chiến sỹ nào tên Phan Văn N công tác tại đơn vị, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2025/HS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.’

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2025 đến ngày 10/6/2025).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 07/10/2025, bị cáo Lê Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi xem xét tất cả các tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Lê Văn T là đúng người, đúng tội, mức án phù hợp với tính chất cũng như mức độ của hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, bị cáo không đủ điều kiện để được cho hưởng án treo. Từ đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được có thời gian chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 27/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, ngày 07/10/2025 bị cáo có đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án cấp sơ thẩm, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Lời khai nhận của bị cáo Lê Văn T tại phiên tòa phù hợp nội dung bản án sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Lê Văn T là người cung cấp thông tin cá nhân, hình ảnh cho Phan Văn N (chưa rõ nhân thân) để làm giả 01 Giấy chứng minh Công an nhân dân số 471-718, mang tên Lê Văn T, ngày sinh: 09/07/1991, cấp bậc: Cấp úy, chức vụ: Sĩ quan nghiệp vụ, đơn vị: C1, cấp ngày 08/11/2020. Ngày 25/4/2025, Lê Văn T sử dụng Giấy Chứng minh Công an nhân dân trên để xuất trình khi tổ tuần tra Cảnh sát giao thông phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương kiểm tra. Theo kết luận giám định số 1917/KL-KTHS (TL) ngày 26/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, Giấy chứng minh

Công an nhân dân số 471-718 là giả, được làm bằng phương pháp in phun màu điện tử.

[4] Hành vi của bị cáo Lê Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu. Về nhận thức bị cáo biết việc bị cáo không phải là Công an, đã sử dụng Giấy chứng minh Công an nhân dân giả để xuất trình cho lực lượng chức năng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đầy đủ, có căn cứ và đúng quy định.

[6] Xét kháng cáo của bị cáo, tại phiên tòa, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, hành vi của bị cáo, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, đánh giá đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm, căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù là không nặng. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết hay tài liệu nào mới. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn là phù hợp, việc cho bị cáo hưởng án treo là không nghiêm trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, ổn định an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[7] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo cho bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Án phí phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 344, Điều 345, điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2025/HS-ST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2025 đến ngày 10/6/2025.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp.HCM; (1)
  • - TAND khu vực 16; (2)
  • - VKSND khu vực 16; (1)
  • - Phòng THADS khu vực 16; (1)
  • - Công an Tp.HCM (Điều tra); (1)
  • - P. PV06 - CA TPHCM; (1)
  • - Công an Tp.HCM (Lý lịch TP); (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. 17 (4)
  • (22)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 830/2025/HS-PT ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 830/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T phạm tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger