Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 83/2025/HNGĐ-ST

Ngày 13 tháng 11 năm 2025

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tiến Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Ngọc Tân;

2. Ông Nguyễn Gia Khải.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXX-ST ngày 03/10/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: thôn T, xã P, tỉnh Hưng Yên.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1981.

Đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn M, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là thôn M, xã P, tỉnh Hưng Yên).

Địa chỉ hiện nay tại Liên Bang N.

(Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị D có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là UBND xã P, tỉnh Hưng Yên) ngày 16/9/2022. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không phù hợp. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện với nhau để tìm cách hàn gắn nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2025 từ đó cho đến nay mỗi người một nơi. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hưng Yên giải quyết cho chị được ly hôn anh S.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại chị D không có thai nghén gì.

Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn S không nộp văn bản trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi đến Toà án.

Tại biên bản xác minh với ông Nguyễn Văn C là bố đẻ của anh S thể hiện: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn S là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2022 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là xã P, tỉnh Hưng Yên). Đến tháng 10/2024 anh S đi xuất khẩu lao động tại Nga lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng chị D, anh S có phát sinh mâu thuẫn hay không thì gia đình không nắm rõ, hiện vợ chồng sống ly thân mỗi người sống một nơi. Nay chị D có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng không có con chung. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.

Hiện anh S đi lao động xuất khẩu tại Liên Bang N từ tháng 10/2024 cho đến nay, ông không biết địa chỉ cụ thể của anh S tại nước Liên Bang N. Hàng ngày anh S vẫn gọi điện thoại cho ông nhưng mỗi lần anh S gọi điện về là một số khác nhau, ông có hỏi địa chỉ cụ thể của anh S, nhưng anh S không cung cấp địa chỉ cho ông. Ông từ chối nhận các văn bản của Tòa án.

- Tại biên bản xác minh với cơ sở xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là xã P, tỉnh Hưng Yên) thể hiện:

Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn S là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2022 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là xã P, tỉnh Hưng Yên). Quá trình chung sống vợ chồng chị D, anh S có phát sinh mâu thuẫn hay không cơ sở không nắm rõ. Nay chị D có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị D và anh S không có con chung. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ. Qua gia đình anh S cơ sở được biết từ tháng 10/2024 anh S đã sang Liên Bang N lao động tự do nhưng vẫn thường xuyên gọi điện về gia đình nhưng anh S không cung cấp địa chỉ cụ thể cho gia đình biết.

- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn T, xã P, tỉnh Hưng Yên thể hiện:

Chị Nguyễn Thị D là công dân thôn T Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn S là người thôn M, xã A cũ (nay là thôn M, xã P) chị D, anh S tự do, tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 16/9/2022 tại UBND xã A, tỉnh Thái Bình (nay là UBND xã P, tỉnh Hưng Yên).

Sau khi kết hôn chị D, anh S chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm nên chị D, anh S đã sống ly thân nhau.

Nay chị D xin ly hôn anh S, địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào thực trạng hôn nhân và quy định của pháp luật để giải quyết. Về con chung: Chị D và anh S không có con chung. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ

* Công văn số 701/XNC ngày 25/8/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh H cung cấp: Anh Nguyễn Văn S xuất cảnh lần gần nhất ngày 03/10/2024, chưa có thông tin nhập cảnh vào Việt Nam.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hưng Yên phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D: Xử cho chị D được ly hôn anh S; Về quan hệ con chung: Chị D và anh S không có con chung. Không đặt ra giải quyết; về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết; Chị D phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn S là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại thôn M, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là xã P, tỉnh Hưng Yên) hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài. Qua lời khai của chị D, ông C (bố anh S) thì anh S đi xuất khẩu lao động tại L Nga, Tòa án đã 02 lần yêu cầu ông C cung cấp địa chỉ của anh S nhưng ông C không cung cấp được. Như vậy, bị đơn anh S được xác định ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án đã yêu cầu người thân thích của anh S là ông C cung cấp địa chỉ nhưng không có kết quả, thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 10 (Giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ) Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Hưng Yên.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh S vắng mặt không có lý do, chị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị D, anh S được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là UBND xã P, tỉnh Hưng Yên) ngày 16/9/2022 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2025 đến nay không quan tâm đến nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị D đề nghị ly hôn nhưng anh S cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D, anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D, xử cho chị được ly hôn anh S là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn S không có con chung. Không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn S.

2. Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn S không có con chung nên không đặt ra giải quyết.

3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị D đã nộp theo Biên lai thu số 0005814 ngày 12/8/2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu Vực 8 - Hưng Yên được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án. Anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND khu vực 8 - Hưng Yên;
  • - Phòng THADS Khu Vực 8 - Hưng Yên;
  • - UBND xã An Thanh (nay là xã Phụ Dực, tỉnh Hưng Yên);
  • - Các đương sự;
  • - Ông Nguyễn Văn Các;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Tiến Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HNGĐ-ST ngày 13/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 83/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị D ly hôn anh Nguyễn Văn Song
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger