|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 82/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24-11-2025
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Hợp
- Ông Nguyễn Văn Kiện
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – An Giang tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 10 và ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 287/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXX-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 60/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Thành S, sinh năm 1960 (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1963 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Thành S trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 1982, ông Lê Thành S và bà Bùi Thị T quen biết và tiến tới hôn nhân nhưng đến năm 2022 mới đăng ký kết hôn và được UBND xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18-3-2022.
Những năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau. Mặt khác, bà T không tôn trọng gia đình ông S và cũng không tôn trọng ông S và đuổi ông S ra khỏi nhà vào khoảng cuối năm 2024, ông S đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hiện nay ông S không còn tình cảm với bà T nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông S yêu cầu được ly hôn với bà T.
Về con chung: Ông Lê Thành S và bà Bùi Thị T có 02 người con chung tên Lê Quốc C, sinh năm 1983 và Lê Thị Mỹ N, sinh năm 2000, nay đã thành niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông Lê Thành S xác nhận có nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông Lê Thành S xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Bùi Thị T trình bày tại Toà án: Bà T thống nhất với lời trình bày của ông S về hôn nhân, về con chung, còn về nguyên nhân mâu thuẫn thì không đúng. Về tài sản chung thì có tài sản chung, về nợ chung không có là đúng.
Nay ông S xin ly hôn, bà T không đồng ý ly hôn vì lý do ông S thường xuyên bỏ nhà ra đi một vài tháng mới về, lần gần nhất là cách đây 10 tháng trước ông S bỏ nhà ra đi đến nay. Trong thời gian chung sống ông S thường giấu bà lén cho tiền cha mẹ chồng vì vậy mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng. Hiện nay vợ chồng đã lớn tuổi, hai con đã trưởng thành nên bà không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Các con nay đã thành niên nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà T yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng.
Về nợ chung: Bà T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa ngày 02-10-2025 bà T có mặt, tại phiên toà hôm nay bà T vắng mặt.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn ông Lê Thành S đối với bị đơn bà Bùi Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 16-6-2025 ông Lê Thành S có đơn khởi kiện xin ly hôn với bà Bùi Thị T. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Thành S và bà Bùi Thị T chung sống với nhau vào năm 1982 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được UBND xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18-3-2022, đây là hôn nhân hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Thành S: Vợ chồng ông Lê Thành S và bà Bùi Thị T không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của ông S và bà T tại Toà án: Ông S và bà T có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Đồng thời, bà T không tôn trọng gia đình ông S cũng như không tôn trọng ông S và đuổi ông S ra khỏi nhà vào khoảng cuối năm 2024. Mặt khác, ông S xác nhận hiện nay ông không còn tình cảm với bà T nữa. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông S và bà T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của ông S xin ly hôn với bà T là có căn cứ để chấp nhận.
[4] Về con chung: Ông Lê Thành S và bà Bùi Thị T có 02 người con chung tên Lê Quốc C, sinh năm 1983 và Lê Thị Mỹ N, sinh năm 2000, nay đã thành niên nên HĐXX không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Tại phiên Toà ngày 02-10-2025 bà T yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản chung vợ chồng, Toà án đã ban hành Quyết định tạm ngừng phiên toà với thời hạn 15 ngày để bà T làm đơn phản tố yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng nhưng hết thời hạn quy định bà T không gửi đơn phản tố yêu cầu chia tài sản chung. Cho nên về phần tài sản chung Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[6] Về nợ chung: Ông S và bà T đều xác nhận không có nợ chung nên HĐXX không xem xét.
[7] Thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án như đã phân tích và nhận định trên.
[8] Về án phí: Ông S là nguyên đơn trong vụ án, do đó ông S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng. Tuy nhiên, ông S là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
Áp dụng khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Thành S. Cho ông Lê Thành S được ly hôn với bà Bùi Thị T.
- 2. Về con chung: Ông Lê Thành S và bà Bùi Thị T có 02 người con chung tên Lê Quốc C, sinh năm 1983 và Lê Thị Mỹ N, sinh năm 2000, nay đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 3. Về tài sản chung: Ông Lê Thành S và bà Bùi Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 4. Về nợ chung: Ông Lê Thành S và bà Bùi Thị T xác nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 5. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Lê Thành S là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và tiền án phí.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.
- Quyền kháng cáo: Ông Lê Thành S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Bùi Thị T vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Xuân |
Bản án số 82/2025/HNGĐ-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 82/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Thành S đối với bà Bùi Thị T
