Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 81/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-9-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/. Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh.
  • 2/. Ông Đặng Thành Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

Ngày 08 tháng 9 và ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2025 và theo quyết định hoãn phiên tòa số: 145/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trần Văn H, sinh năm 1988.

Bị đơn: Bùi Huỳnh T, sinh năm 1989.

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay là Ấp T, xã A, tỉnh Đồng Tháp).

(Anh H có đơn xin vắng mặt và chị T vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 6 năm 2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Trần Văn H trình bày: Vào năm 2014 anh Trần Văn H và chị Bùi Huỳnh T yêu thương nhau và được hai bên gia đình chấp thuận tổ chức lễ cưới cho anh H và chị T, đến ngày 23-3-2015 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng (nay là Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Đồng Tháp). Trong thời gian chung sống vợ chồng có một con chung tên Trần Bin N, sinh ngày 25-10-2014. Trong thời gian chung sống vợ chồng sống chung hạnh phúc, đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn và bất đồng quan điểm, không thể hàn gắn được, cuộc sống không còn hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được cho nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Nên anh H làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp) yêu cầu giải quyết:

Về hôn nhân: Anh Trần Văn H yêu cầu được ly hôn với chị Bùi Huỳnh T.

Về con chung: Có một con chung tên Trần Bin N, sinh ngày 25-10-2014. Anh H đồng ý giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng và không tự nguyện cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến nay chị Bùi Huỳnh T không có mặt tại nơi cư trú và cũng không biết địa chỉ mới, nên Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật (niêm yết công khai).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, theo quy định tại các Điều 227; 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

  2. Về nội dung vụ án:
    1. Về hôn nhân: Anh Trần Văn H và chị Bùi Huỳnh T sống chung có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Nay là Ủy ban nhan dân xã A, tỉnh Đồng Tháp) nên hôn nhân của anh H và chị T là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn và gia đình.

      Trong thời gian chung sống giữa anh H và chị T có mâu thuẫn nên anh H khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị T tại Tòa án. Từ năm 2024, anh H và chị T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nguyên nhân do chị T thường xuyên nhắn tin với người đàn ông khác và chỉ đi chơi không lo cho gia đình dẫn đến cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra gây gỗ, mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được. Từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay anh H và chị T đã ly thân với nhau, do từ khi Tòa án thụ lý vụ án chị T đã không có mặt tại nơi cư trú và cũng không biết địa chỉ mới nên không thể hòa giải để anh chị đoàn tụ.

      Xét thấy quan hệ hôn nhân vợ chồng của anh H và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, có tiếp tục sống chung cũng không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H đối với chị T theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

    2. Về con chung: Anh Trần Văn H và chị Bùi Huỳnh T có một con chung tên Trần Bin N, sinh ngày 25-10-2014 đang sống chung với chị T. Anh H đồng ý giao con chung cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh H không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu B Nguyễn hiện đang sống chung với chị T, do chị T và cháu Bin N không có mặt tại nơi cư trú, Tòa án không làm việc được nên không hỏi được ý kiến hay nguyện vọng của cháu Bin N, nhưng từ khi anh H và chị T ly thân đến nay thì cháu Bin N đều sống chung với chị T, do đó giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, anh H lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

      Về cấp dưỡng nuôi con: Khi nào chị Bùi Huỳnh T có yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết thành vụ án khác.

    3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”, vậy anh Trần Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006409 ngày 10-7-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, anh Trần Văn H đã nộp đủ án phí. Chị Bùi Huỳnh T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5; 28; 35; 39; 144; 147; 227; 228; 238; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 9; 51; 53; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Văn H.

  1. Về hôn nhân: Anh Trần Văn H được ly hôn với chị Bùi Huỳnh T.
  2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung Trần Bin N, sinh ngày 25-10-2014 cho chị Bùi Huỳnh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, chị Bùi Huỳnh T cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Trần Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp anh Trần Văn H lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì chị Bùi Huỳnh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Trần Văn H.

    Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:

    Anh Trần Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số số 0006409 ngày 10-7-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, anh Trần Văn H đã nộp đủ án phí.

    Chị Bùi Huỳnh T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND khu vực 12 - Đồng Tháp;
  • - THADS tỉnh Đồng Tháp;
  • - UBND xã An Phước;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Vũ Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 81/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger