Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 808/2025/DS-PT

Ngày: 18-12-2025

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng

đất, hợp đồng tặng cho quyền sử

dụng đất và hủy giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán:

  1. Bà Trịnh Thị Phúc
  2. Bà Phạm Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông

Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 01 và ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 514/2025/TLPT- DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 599/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1964; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh)
  2. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1966; địa chỉ: Số D, ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An (nay là số D, khu phố B, phường T, tỉnh Tây Ninh). (Theo Giấy ủy quyền công chứng số 2354 ngày 14/6/2023 tại Văn phòng C1, thị xã K, tỉnh Long An).

  3. Bị đơn:
    1. Bà Trần Thị T, sinh năm 1944
    2. Ông Diệp Văn V, sinh năm 1964
  4. Cùng địa chỉ: Ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).

2

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông V, bà T: Ông Nguyễn Chí T1, sinh năm 1989; địa chỉ: số C, P, khu phố B, Phường B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là khu phố G, phường K, tỉnh Tây Ninh).(Theo Giấy ủy quyền công chứng số 2022 tại Văn phòng C1, thị xã K, tỉnh Long An)

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1967; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An (này là xã B, tỉnh Tây Ninh).
    2. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1964; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An (này là xã B, tỉnh Tây Ninh).

      (Theo Giấy ủy quyền chứng thực ngày 18/5/2023 tại UBND xã B, huyện M, tỉnh Long An)

    3. Ông Diệp Văn T2, sinh năm 1973;
    4. Bà Võ Uyên O, sinh năm 1978;
    5. Ông Diệp Văn H1, sinh năm 1988;
    6. Bà Lê Thị Kim D, sinh năm 1985;
    7. Cháu Diệp Thị Quỳnh N, sinh năm 2010;
    8. Cháu Diệp Thiên L, sinh năm 2023;
    9. Người đại diện theo pháp luật của N, L: Ông Diệp Văn H1, bà Lê Thị Kim D (cha, mẹ ruột)

      Cùng địa chỉ: Ấp T, xã B, thị xã K, Long An (này là xã B, tỉnh Tây Ninh).

    10. Văn phòng C1;
    11. Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Đ1 - Trưởng Văn phòng; địa chỉ: Khu phố A, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An (nay là phường K, tỉnh Tây Ninh).

  2. Người làm chứng: Ông Dương Minh H2, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (này là xã B, tỉnh Tây Ninh).
  3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L2.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 06/4/2023 và quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị L2 có người đại diện bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Bà Nguyễn Thị L2 với ông Trần Văn Đ là vợ chồng, cưới nhau từ năm 1980; cũng trong năm 1980, Tập đoàn D1, xã B được thành lập nên đất đai tại ấp T, xã B do Tập đoàn D1 quản lý. Năm 1982, bà L2 và ông Đ làm đơn xin Tập đoàn D1 cấp 02 thửa đất gồm: 01 thửa đất thổ cư, 01 thửa đất ruộng chiều ngang 05 sào, 3ha, chiều dài 15 sào, có tứ cận như sau: Phía đông giáp đất bà Trần Thị T; phía Tây giáp lộ làng; phía Nam giáp đất bà Trần Thị T; phía Bắc giáp mương máng Tập đoàn D1. Tập đoàn D1 đồng ý cấp đất cho bà L2, ông Đ sinh sống và chăn nuôi vịt. Việc bà L2, ông Đ được Tập đoàn 4 cấp đất có rất nhiều người biết. Hiện nay 02 thửa đất Tập đoàn 4 cấp cho bà L2, ông Đ là thửa số 354, diện tích

3

4.300m², loại đất vườn tạp và thửa số 355, diện tích 1.300m², loại đất trồng lúa, thuộc tờ bản đồ số 2, tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

Từ tháng 02/1983, bà L2, ông Đ cất nhà chữ đinh, vách đất trộn rơm, mái lá có chiều ngang 06m, chiều dài 12m trên phần đất thổ và sinh sống cho đến cuối năm 1993. Vào năm 1983, bà L2, ông Đ có đắp nền (tôn nền) để chống sạt lở trên phần đất thổ có chiều ngang 08m, dài 20m, đào ao để nuôi cá chiều ngang 10m, chiều dài 15m, sâu 1,7m. Từ cuối năm 1993, do tình hình biên giới Tây Nam biến động nên bà L2, ông Đ về xã B, huyện M, tỉnh Long An sinh sống. Trong thời gian này, bà L2, ông Đ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế đất đối với 02 thửa đất nêu trên. Do căn nhà chữ đinh bị sập nên vào tháng 10 năm 1994, bà L2, ông Đ có cưa 20 cây tràm lanh, 02 bụi tre gai do ông bà trồng trước nhà để làm lại nhà ở thì bị bà T ngăn cản không cho làm. Đến tháng 02 năm 1995, bà L2, ông Đ định làm lại nhà nhưng do mùa màng thất bát, kinh tế khó khăn, con cái còn nhỏ nên không làm lại nhà được.

Từ năm 1995 đến năm 2008, bà L2, ông Đ nhiều lần làm đơn yêu cầu UBND xã B, huyện M giải quyết buộc bà T, ông V trả lại cho ông bà 02 thửa đất nêu trên nhưng không có kết quả. UBND xã B thông báo chuyển hồ sơ lên cấp trên giải quyết theo thẩm quyền, nhưng không thấy UBND xã B chuyển đơn của bà L2, ông Đ lên cấp trên giải quyết; do thiếu hiểu biết nên bà L2 cứ chờ đợi và vụ việc kéo dài đến nay.

Tại biên bản hòa giải ngày 29/10/2008 tại UBND xã B có nội dung “ý kiến đồng chí Nhiều - Phó Chủ tịch UBND xã B: Theo cuộc họp giải quyết tại UBND huyện như sau: thành quả đóng góp của bà L2 là 10 năm, còn ông V là 14 năm. Hướng 1: Chia đôi phần đất và cấp giấy cho bà L2 và ông V. Hướng 2: Chia đôi phần đất và ông V trả lại một phần tiền cho bà L2”; nhưng bà L2 không đồng ý mà đòi lại hết toàn bộ phần đất để về sinh sống.

Bà L2 khởi kiện ông Điệp Văn V1, bà Trần Thị T yêu cầu Tòa án buộc bà T, ông V1 trả lại thửa đất số 354, diện tích 4.300m², loại đất vườn tạp và thửa số 355, diện tích 1.300m², loại đất trồng lúa, thuộc tờ bản đồ số 2, tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An để bà L2 được kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 02 thửa đất nêu trên.

Tại đơn khởi kiện bổ sung, văn bản trình bày ý kiến, bà L2 xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau:

Bà L2 yêu cầu bà T, ông V1 trả thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11) có vị trí số 01, diện tích 1.304,8m², loại đất BHK; vị trí số 02, diện tích 921m², loại đất NTS; vị trí số 03 diện tích 1.060,9m², loại đất ONT; vị trí số 04 diện tích 14,2m², loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

Bà L2 yêu cầu Tòa án vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số: 5480 ngày 27/10/2022 tại Văn phòng C1 giữa bà Trần Thị T và ông Diệp Văn T2, bà Võ Uyên O tại thửa 355, tờ bản đồ số 2 (thửa mới số 344, tờ bản đồ số 11), loại đất LUC và yêu cầu ông T2, bà O trả lại thửa đất số 355 có vị trí cụ thể như sau: số 05, diện tích 13,7m²; vị trí số 06, diện tích 10,7m²; vị trí

4

số 07, diện tích 16,1m²; vị trí số 08, diện tích 513,5m², loại đất LUC, tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

Bà L2 xác định không tranh chấp vị trí số 09 (diện tích 54,4m²) thuộc thửa 356 (thửa mới số 304); vị trí số 10 (diện tích 105,4m²); vị trí số 11 (diện tích 20,6m²) thuộc thửa đất số 391, tờ bản đồ số 2 (thửa mới 341, tờ bản đồ số 11) loại đất ONT, tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An thuộc quyền sử dụng của ông Diệp Văn T2, bà Võ Uyên O.

Bà L2 yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 907221 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Diệp Văn T2, bà Võ Uyên O ngày 21/11/2022 tại thửa đất số 355, tờ bản đồ số 2, diện tích 513,5m² tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An phần còn lại thửa đất số 355, tờ bản đồ số 2 bà L2 không tranh chấp.

Vị trí các thửa đất tranh chấp được xác định theo Mảnh trích đo địa chính số 117-2024 ngày 01/10/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K, tỉnh Long An.

Bị đơn bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V do người đại diện trình bày:

Bà Trần Thị T là chủ thửa đất số 354, 355, diện tích khoảng 5.000m², tờ bản đồ số 2, tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An; trong đó thửa số 354, diện tích 4.000m²; thửa số 355, diện tích 1.117m². Phần đất này có nguồn gốc do bà T khai phá và sử dụng trước năm 1975. Năm 1980, Tập đoàn D1 lấy làm sân phơi lúa của Tập đoàn. Đến năm 1981, Tập đoàn D1 không sử dụng nên bà T lấy lại sử dụng. Năm 1982, bà L2 và ông Đ khó khăn không có đất canh tác nên cha mẹ chồng bà L2 là ông K, bà T3 có đến hỏi mượn đất của bà T để cho vợ chồng bà L2, ông Đ canh tác một thời gian. Do chỗ quen biết nên bà T đồng ý cho bà L2, ông Đ mượn đất để canh tác. Từ năm 1988, bà L2 và ông Đ không có nhu cầu sử dụng đất nên trả lại đất cho bà T; đến nay thì gia đình bà Thanh quản L1, sử dụng đất.

Khoảng năm 1996, Nhà nước có chủ trương làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà T đã đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do không biết phần đất diện tích khoảng 4.000m² thuộc thửa số mấy nên không điền vào tờ khai đăng ký cấp giấy nên UBND huyện M chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 355, diện tích 1.117m² cho bà T, còn thửa số 354 chưa được cấp giấy chứng nhận.

Toàn bộ diện tích đất tranh chấp bà T trực tiếp quản lý sử dụng từ năm 1998 đến nay đã hơn 35 năm, trên đất có nhà cấp 4, diện tích khoảng 100m2, xây dựng năm 2000; kết cấu mái tôn, nền bê tông, vách tôn, chuồng nuôi bò diện tích 200m² và nhiều cây trồng khác. Năm 2022, do tuổi cao sức yếu không trực tiếp canh tác được nên bà T đã tặng cho ông Diệp Văn T2, bà Võ Uyên O thửa đất số 355, diện tích 1.117m² và ông T2, bà O đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 907221 ngày 21/11/2022 và ông T2, bà O đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Đối với thửa đất số 354, diện tích khoảng 4.000m², bà T giao cho con là ông Diệp Văn V quản lý, sử dụng nên bà T không đồng ý với yêu cầu của bà L2.

Bà Trần Thị Thanh phản T4 yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất tại thửa

5

354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11); vị trí số 01 diện tích 1.304,8m², loại đất BHK, vị trí số 02, diện tích 921m², loại đất NTS; vị trí số 03 diện tích 1.060,9m², loại đất ONT; vị trí số 04 diện tích 14,2m², loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị L2 tự nguyện rút lại yêu cầu Tòa án vô hiệu một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 5480 ngày 27/10/2022 tại Văn phòng C1 giữa bà Trần Thị T và ông Diệp Văn T2, bà Võ Uyên O tại với thửa đất số 355, tờ bản đồ số 2 (thửa mới số 344, tờ bản đồ số 11), loại đất LUC, tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An; rút lại yêu cầu ông T2, bà O trả lại thửa đất số 355 và rút yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DI 907221 ngày 21/11/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Diệp Văn T2, bà Võ Uyên O tại thửa đất số 355.

Bà L2 tiếp tục yêu cầu bà T, ông V trả lại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11), có vị trí số 01, diện tích 1.304,8m², có hiện trạng là đất BHK; vị trí số 02, diện tích 921m², có hiện trạng là đất NTS; vị trí số 03, diện tích 1.060,9m² và vị trí số 04, diện tích 14,2m², có hiện trạng là đất ONT, đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).

Bà L2 không đồng ý với yêu cầu phản tố của bà T.

Bà Trần Thị Thanh G nguyên phản tố yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất tại thửa số 354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới 340, tờ bản đồ số 11) có vị trí số 01, diện tích 1.304,8m², có hiện trạng là đất BHK; vị trí số 02, diện tích 921m², có hiện trạng là đất NTS; vị trí số 03 diện tích 1.060,9m² và vị trí số 04 diện tích 14,2m², có hiện trạng là đất ONT, đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) thuộc quyền sử dụng của bà T.

Bà T, ông V không đồng ý trả thửa đất số 354 cho bà L2, nhưng tự nguyện hỗ trợ bà L2, ông Đ giá trị nền nhà 30.000.000đồng và tiền đắp nền, cây trồng là 70.000.000 đồng; tổng cộng 100.000.000 đồng nếu yêu cầu phản tố của bà T được Tòa án chấp nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Văn Đ do bà Nguyễn Thị L2 đại diện trình bày: Ông Đ thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà L2 trong vụ án.
  2. Ông Diệp Văn T2, bà Võ Uyên O có văn bản trình bày: Ông T2, bà O thống nhất như nội dung trình bày của bà Trần Thị T. Thửa đất số 355, diện tích 1.117m² ông T2, bà O đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 907221 ngày 21/11/2022 có nguồn gốc do bà T tặng cho và hiện nay ông T2, bà O đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Ông T2, bà O đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L2; những nội dung khác, ông T2 và bà O thống nhất như ý kiến và yêu cầu phản tố của bà T.
  3. Ông T2, bà O có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm đến phúc thẩm.

  4. Ông Diệp Văn H1, bà Lê Thị Kim D và là người đại diện theo pháp luật của cháu Diệp Thị Quỳnh N, Diệp Thiên L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt

6

trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm đến phúc thẩm.

  1. Văn phòng C1 do bà Bùi Thị Đ1 đại diện có văn bản đề nghị Tòa án cho vắng mặt tại phiên họp; không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn trong vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tây Ninh đã tuyên:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị L2 đối với bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V tại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11), loại đất: LUC, có diện tích 160m², đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị L2 đối với bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V tại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11), loại đất: LUC, có diện tích 3.140,9m², đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).

    Buộc bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L2, ông Trần Văn Đ giá trị nền đất diện tích 160m² là là 76.800.000 đồng.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V về việc hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn Đ2, bà Nguyễn Thị L2 số tiền 70.000.000 đồng.

    Tổng số tiền bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V2 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Văn Đ2, bà Nguyễn Thị L2 là 146.800.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị T về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02, (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11), loại đất: LUC, tại xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).
  4. Bà Trần Thị T có quyền sử dụng thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11) có vị trí số 01, diện tích 1.304,8m²; vị trí số 02, diện tích 921m²; vị trí số 03, diện tích 1.060,9m²; vị trí số 04, diện tích 14,2m²; tổng diện tích: 3.300,9m²; cùng loại đất: LUC, đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).

    Vị trí, kích thước, hình thể thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02, (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11) loại đất: LUC, tại xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) được xác định theo Mảnh trích đo địa chính số: 117-2024 ngày 01/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K, tỉnh Long An. (đính kèm)

    Bà Trần Thị T có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ với cơđăng ký đất đai có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấychứng nhận quyền sử

7

dụng đất thuộc quyền sử dụng của mình theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị L2 về việc tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 5480 ngày 27/10/2022 tại Văn phòng C1 và yêu cầu trả ông Diệp Văn T2, bà Võ Thị Uyên O trả lại thửa đất số 355, tờ bản đồ số 2 (thửa mới số 344, tờ bản đồ số 11), loại đất LUC; tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DI 907221 ngày 21/11/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Diệp Văn T2, bà Võ Uyên O. Bà L2 không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án.
  2. Về chi phí tố tụng:
  3. Bà Nguyễn Thị L2 phải chịu 16.560.000 đồng; đã nộp tạm ứng xong.

    Buộc bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V phải liên đới nộp 16.560.000 đồng chi phí tố tụng, để trả lại cho bà Nguyễn Thị L2 tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 16.560.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí sơ thẩm:
  5. Bà Nguyễn Thị L2, bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị L2 6.550.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu số: 0000261 ngày 16/10/2023 (ghi tên: Nguyễn Thị My L2) và Biên lai thu số: 0000293 ngày 25/10/2023 của C cụcThi hành án dân sự thị xã K, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8, tỉnh Tây Ninh).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực.

Ngày 22/08/2025, bà Nguyễn Thị L2 có đơn kháng cáo. Nội dung đề nghị, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp thêm chứng cứ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Về hình thức: Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của

8

người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L2. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục:

[1.1] Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị L2 được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị L2 kháng cáo đề nghị, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L2. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét trong phạm vi kháng cáo của bà L2.

[2.1] Về quyền sử dụng đất tranh chấp do các đương sự xác định theo Mảnh trích đo địa chính số 117-2024 ngày 01/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K, tỉnh Long An tại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11) có vị trí số 01 diện tích 1.304,8m², loại đất BHK; vị trí số 02, diện tích 921m², loại đất NTS; vị trí số 03 diện tích 1.060,9m² và vị trí số 04 diện tích 14,2m², loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh). Hiện nay, các vị trí đất tranh chấp do bà T, ông V quản lý, sử dụng để làm nhà ở, nhà tắm, nhà rơm, 02 chuồng trại nuôi bò, ao nuôi cá (chứa nước thải) và trồng cỏ nuôi bò.

[2.2] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất đai: Theo Công văn số 1029/CNVPĐKĐĐ ngày 21/11/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K, tỉnh Long An thì: “thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã B, thị xã K, tỉnh Long An chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân nào”; và theo Công văn số 365/CV-UBND ngày 06/6/2025 của UBND xã B, tỉnh Long An thì: “Ban chủ nhiệm Tập đoàn D1 có giao đất cho bà Nguyễn Thị L2 và ông Trần Văn Đ để làm nhà ở nay thuộc thửa số 354, tờ bản đồ số 2”. Ngoài ra, theo Đơn xin giải quyết tranh chấp đất thổ cư ghi ngày 30/10/1995 của ông Trần Văn Đ trình bày: “năm 1982 tôi có làm đơn xin thổ cư cất nhà với Tập đoàn D1, lúc đó ông Nguyễn Văn H3 làm Tập đoàn trưởng có cấp cho tôi một thổ cư để ở, nhưng lâu quá tôi để mất giấy”. Như vậy, có căn cứ xác định một phần thửa đất số 354 có nguồn gốc do Tập đoàn D1, xã B, huyện M, tỉnh Long An (được thành lập, hoạt động và tự giải thể từ năm 1980 đến năm 1990)

9

cấp cho ông Trần Văn Đ chồng bà Nguyễn Thị L2 để làm nhà ở (nhà chữ đinh, vách đất trộn rơm, mái lá, nền đất); sử dụng từ năm 1983 đến năm 1992. Sau khi nhà bị sập thì bà T thuê máy ủi đất, lên nền và xây dựng nhà cho con là ông Diệp Văn V sử dụng cho đến nay.

[2.3] Bà L2, ông T đều thừa nhận rằng căn nhà chữ đinh, vách đất trộn rơm, mái lá, nền đất do ông Đ, bà L2 xây dựng trên một phần thửa đất số 354 có chiều ngang là 06m, chiều dài là 12m, xây dựng trên nền đất do ông Đ, bà L2 bồi đắp có chiều ngang 08m, chiều dài 20m; có diện tích 160m²; trong thời gian ông Đ, bà L2 sử dụng đất có trồng một số bụi tre, đào một cái ao ngang 10m, dài 15m trên một phần thửa đất số 354 để ngăn nước tràn vào nhà nên bà T, ông V tự nguyện hỗ trợ tiền đấp nền, cây trồng và tiền đào ao cho ông Đ, bà L2 là 70.000.000 đồng, nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của bà T, ông V là phù hợp và có căn cứ.

[2.4] Từ đó xét thấy, có căn cứ xác định một phần thửa đất số 354, có diện tích 160m² do Tập đoàn D1, xã B, huyện M, tỉnh Long An cấp cho ông Đ, bà L2 để làm nền nhà ở từ năm 1983 đến năm 1992 và phần còn lại của thửa đất số 354 do bà T, ông V quản lý sử dụng, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do phát sinh tranh chấp đất với ông Đ, bà L2 từ năm 1995 chưa được cơ quan có thẩm quyền giải quyết xong. Mặt khác, theo hồ sơ địa chính thì thửa đất số 354 là đất trồng lúa nên không đủ diện tích để tách một phần thửa số 354, có diện tích 160m² cho ông Đ, bà L2 theo quy định của UBND tỉnh L (nay là UBND tỉnh T). Ngoài ra, tại vị trí nền đất mà Tập đoàn D1 đã cấp cho ông Đ, bà L2 là một phần chuồng trại, nhà rơm do bà T, ông V xây dựng và đang quản lý để chăn nuôi, nên để đảm bảo quyền lợi của các bên thì bà T, ông V phải trả lại giá trị nền đất diện tích 160m² cho ông Đ, bà L2 theo chứng thư định giá vào tháng 11/2024: 480.000 đồng/m² là 76.800.000 đồng và bà T có quyền sử dụng toàn bộ diện tích thửa đất số 354 là phù hợp với thực tế.

[2.5] Như đã phân tích trên: Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà L2 là có căn cứ và phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà L2.

[3] Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L2 phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị L2.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 11/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Tây Ninh.

10

Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26, các Điều 34, 35, 39, 147, 148, 157, 165, 228; khoản 2 Điều 244, Điều 245; Điều 271, 273 và Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 26, Điều 31 của Luật Đất đai năm 2024;

Căn cứ vào Điều 6, Điều 26, Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị L2 đối với bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V tại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11), loại đất: LUC, có diện tích 160m², đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị L2 đối với bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V tại thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11), loại đất: LUC, có diện tích 3.140,9m², đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).
    1. Buộc bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L2, ông Trần Văn Đ giá trị nền đất diện tích 160m² là là 76.800.000 đồng.
    2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V về việc hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn Đ2, bà Nguyễn Thị L2 số tiền 70.000.000 đồng.
  3. Tổng số tiền bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V2 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Văn Đ2, bà Nguyễn Thị L2 là 146.800.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Trần Thị T về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02, (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11), loại đất: LUC, tại xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).
    1. Bà Trần Thị T có quyền sử dụng thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02 (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11) có vị trí số 01, diện tích 1.304,8m²; vị trí số 02, diện tích 921m²; vị trí số 03, diện tích 1.060,9m²; vị trí số 04, diện tích 14,2m²; tổng diện tích: 3.300,9m²; cùng loại đất: LUC, đất tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh).
    2. Vị trí, kích thước, hình thể thửa đất số 354, tờ bản đồ số 02, (thửa mới số 340, tờ bản đồ số 11) loại đất: LUC, tại xã B, thị xã K, tỉnh Long An (nay là xã B, tỉnh Tây Ninh) được xác định theo Mảnh trích đo địa chính số: 117-2024 ngày

11

01/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K, tỉnh Long An. (đính kèm)

  1. Bà Trần Thị T có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ với cơquan đăng ký đất đai có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của mình theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị L2 về việc tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 5480 ngày 27/10/2022 tại Văn phòng C1 và yêu cầu trả ông Diệp Văn T2, bà Võ Thị Uyên O trả lại thửa đất số 355, tờ bản đồ số 2 (thửa mới số 344, tờ bản đồ số 11), loại đất LUC; tọa lạc tại ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DI 907221 ngày 21/11/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Diệp Văn T2, bà Võ Uyên O. Bà L2 không có quyền khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án.
  2. Về chi phí tố tụng:
    1. Bà Nguyễn Thị L2 phải chịu 16.560.000 đồng; đã nộp tạm ứng xong.
    2. Buộc bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V phải liên đới nộp 16.560.000 đồng chi phí tố tụng, để trả lại cho bà Nguyễn Thị L2 tiền tạm ứng chi phí tố tụng là 16.560.000 đồng.
  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Nguyễn Thị L2, bà Trần Thị T, ông Diệp Văn V được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị L2 6.550.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu số: 0000261 ngày 16/10/2023 (ghi tên: Nguyễn Thị My L2) và Biên lai thu số: 0000293 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8, tỉnh Tây Ninh).
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị L2 được miễn án phí. Bà L2 không có nộp tiền tạm ứng án phí nên không hoàn trả.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. /.

12

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND khu vực 8 - Tây Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 8 - Tây Ninh;
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Phúc - Phạm Thị Hồng Vân

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 808/2025/DS-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 808/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger