Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 800/2025/DS-PT

Ngày: 27/11/2025

V/v tranh chấp: “Hợp đồng tặng cho QSD đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm.

- Các Thẩm phán:

  • Bà Lâm Ngọc Tuyền.
  • Bà Nguyễn Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Hà Ngọc Thư Trúc, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 564/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 118/2025/DS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Tháp) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1239/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1996; Địa chỉ: khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) (Văn bản ủy quyền ngày 02/8/2024), (có mặt).

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1952 (có mặt)

Địa chỉ: tổ A, ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp)

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Trọng K, sinh năm 1946. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp), (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Lưu Thị N, sinh năm 1961.
  • Chị Nguyễn Thị Bích L1, sinh năm 1987.
  • Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1992.

Cùng địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp)

  • Chị Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Tổ F, ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp)

  • Chị Nguyễn Thị Bích L2, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp).

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1996; Địa chỉ: khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) (Văn bản ủy quyền ngày 02/8/2024) (có mặt).

* Người kháng cáo: bị đơn Nguyễn Thị T1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm:

* Theo Đơn khởi kiện ngày 18/10/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn T là nguyên đơn, bà Lưu Thị N, chị Nguyễn Thanh T2, chị Nguyễn Thị Bích L1, chị Nguyễn Thị Bích L2, chị Nguyễn Thị Đ là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có chị Nguyễn Thị Thùy L là người đại diện hợp pháp trình bày:

Đất tranh chấp thuộc thửa số 1143, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, diện tích theo giấy chứng nhận là 200m², diện tích đo đạc thực tế 122,6m², trong phạm vi các mốc M3, M4, M5, M6 về mốc M3 theo Sơ đồ đo đạc ngày 19/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, có nguồn gốc là của mẹ ruột Phan Thị D tạo lập.

Năm 2006, cụ D chuyển nhượng thửa 1143 và một phần thửa 394 (hiện do ông T đứng tên) cho ông Phan Văn Phi B, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Khi biết được thì ông T thỏa thuận nhận chuyển nhượng lại từ ông Phi B với số tiền là 17.000.000 đồng. Do đó đến năm 2007, cụ D làm thủ tục tách bộ chuyển quyền sử dụng đất cho ông T đứng tên. Đến ngày 16/10/2007, hộ ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1143. Hộ ông T gồm ông, vợ ông là bà N và các con Thơn, L1, L2, Đ. Sau đó gia đình ông T trồng khóm, mít, chuối từ năm 2007 cho đến nay không ai tranh chấp.

Năm 2023, bà T1 tranh chấp quyền sử dụng đất với ông T thì ông mới biết có hợp đồng tặng cho ngày 04/10/2008, trong đó ông T tặng thửa 1143 cho bà T1 nhưng từ trước đến nay cá nhân ông hoặc hộ gia đình ông không có ký hợp đồng này. Sau đó bà T1 hứa sẽ làm thủ tục sang tên lại cho ông T và đã rút đơn khởi kiện, ông T cũng rút yêu cầu phản tố để hai bên tự thực hiện thủ tục. Đến nay bà T1 lại thay đổi ý kiến, không đồng ý chuyển tên lại cho ông T. Do đó, nay ông T khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông T với bà T1 ngày 04/10/2008 đối với thửa đất số 1143 là vô hiệu để hộ ông T được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

* Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Thị T1 trình bày:

Bà T1 đang đứng tên thửa đất số 1143, diện tích 200m², tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, thống nhất diện tích đo đạc thực tế 122,6m² trong phạm vi các mốc M3, M4, M5, M6 về mốc M3 theo Sơ đồ đo đạc ngày 19/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Nguồn gốc thửa đất là của mẹ ruột Phan Thị D tạo lập. Khi mẹ già yếu, bà T1 trực tiếp nuôi nên được mẹ cho đất tại thửa 1143 và thửa 1270. Mẹ trực tiếp làm thủ tục tặng cho bà T1 chứ không có việc hộ ông T làm hợp đồng tặng cho bà. Tuy nhiên, từ trước đến nay hộ ông T sử dụng thửa đất này chứ bà T1 không có sử dụng.

Năm 2023, bà T1 khởi kiện ông T để đòi lại quyền sử dụng đất thửa 1143 nhưng không biết vì lý do gì rút đơn khởi kiện, tuy nhiên bà T1 không có kháng cáo hay khiếu nại việc này. Việc ông T trình bày bà đồng ý sang tên lại cho ông T là không có. Do bà T1 được mẹ tặng cho thửa 1143 và được đứng tên nên nay không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T.

Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2025/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9– Đồng Tháp) đã áp dụng Điều 127, 137 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 236 Luật đất đai năm 2024 và Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.
    1. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2775/HĐTC, chứng thực số 290, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD ngày 04/10/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp giữa bên tặng cho là hộ ông Nguyễn Văn T với bên được tặng cho là bà Nguyễn Thị T1, tài sản tặng cho là quyền sử dụng đất thuộc thửa 1143, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là giao dịch dân sự vô hiệu.
    2. Ông Nguyễn Văn T, bà Lưu Thị N, chị Nguyễn Thanh T2, chị Nguyễn Thị Bích L1, chị Nguyễn Thị Bích L2, chị Nguyễn Thị Đ có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích đo đạc thực tế 122,6m² thuộc thửa 1143, tờ bản đồ số 8, loại đất ở tại nông thôn, trong phạm vi các mốc M3, M4, M5, M6 về mốc M3, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 307735, số vào sổ H001084 ngày 16/10/2007, đã xác nhận biến động trên trang 4 vào ngày 25/11/2008 cho bà Nguyễn Thị T1 được quyền sử dụng thửa 1143, tờ bản đồ số 8, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, để cấp lại cho ông Nguyễn Văn T, bà Lưu Thị N, chị Nguyễn Thị Thanh T2, chị Nguyễn Thị Bích L1, chị Nguyễn Thị Bích L2, chị Nguyễn Thị Đ theo diện tích đo đạc thực tế mà bản án đã tuyên.

(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/6//2023, ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh và Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 14/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16/6/2025, bị đơn Nguyễn Thị T1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Nguyễn Văn T trả lại phần đất đường nước cho bà quản lý, sử dụng và đứng tên quyền sử dụng đất.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn Nguyễn Thị T1 thực hiện quyền kháng cáo theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1, Hội đồng xét xử, xét thấy:

[2.1] Hộ gia đình ông Nguyễn Văn T được UBND huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H001084 ngày 18/10/2007 đối với thửa 1143, tờ bản đồ số 8, diện tích 200m², mục đích sử dụng đất ở nông thôn, đất tọa lạc ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Nguồn gốc ông Nguyễn Văn T được bà Phan Thị D tặng cho một phần từ thửa 394 của bà Phan Thị D vào năm 2007.

[2.2] Theo các tài liệu về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 1143, do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp cho Tòa án thể hiện trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H001084 ngày 18/10/2007 đối với thửa 1143, tờ bản đồ số 8, diện tích 200m² được đăng ký biến động cho bà Nguyễn Thị T1 vào ngày 25/11/2008.

[2.3] Ông Nguyễn Văn T cho rằng hộ gia đình ông không thực hiện ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T1 đối với thửa 1143, diện tích 200m² đất ONT. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông T với bà T1 ngày 04/10/2008 đối với thửa đất số 1143 là vô hiệu để hộ ông T được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bị đơn Nguyễn Thị T1 cho rằng thửa 1143, diện tích 200m² do mẹ bà là Phan Thị D trực tiếp làm thủ tục tặng cho bà, nên bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

[2.4] Theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thể hiện diện tích đo đạc thực tế của thửa 1143 là 122,6m²; giảm 77,4m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bút lục 53a). Các đương sự thống nhất diện tích đo đạc thực tế này.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/5/2025 (bút lục 47 - 49) của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh thể hiện trên thửa đất tranh chấp có 03 cây mít, 01 bụi chuối và một số bụi mía do ông Nguyễn Văn T trồng, đồng thời bà Nguyễn Thị T1 xác định thửa 1143 do ông T quản lý, sử dụng đất và trồng cây; từ trước đến nay bà không có quản lý và sử dụng đất.

[2.5] Nguyên đơn Nguyễn Văn T và bị đơn Nguyễn Thị T1 đều xác định không giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thửa đất cũng không có cầm cố cho người nào khác. Tại công văn số 9174/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 07/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C xác định thửa 1143 không thực hiện đăng ký biến động, không bị kê biên cưỡng chế áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan có thẩm quyền, không có thông tin đăng ký thế chấp (bút lục 64).

[2.6] Xét, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 04/10/2008 thể hiện hộ ông Nguyễn Văn T tặng cho bà Nguyễn Thị T1 toàn bộ thửa 1143, diện tích 200m², phía cuối hợp đồng có chữ ký tên “Thệ” và ghi họ tên Nguyễn Văn T; dấu lăn tay và ghi họ tên Nguyễn Thị T1. Hợp đồng được UBND xã T chứng thực ngày 04/10/2008. Kèm theo hợp đồng có đơn xin ủy quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lưu Thị N, chị Nguyễn Thị Bích L1, Nguyễn Thị Bích L2 và được UBND xã T xác nhận ngày 04/10/2008 (bút lục 65, 66). Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T xác định ông và các thành viên trong hộ gia đình không tặng cho quyền sử dụng đất thửa 1143 cho bà Nguyễn Thị T1.

Tại biên bản làm việc ngày 14/5/2025 (bút lục 51); biên bản hòa giải ngày 14/5/2025 (bút lục 45 - 46) và tại phiên tòa sơ thẩm ngày 12/6/2025, bà Nguyễn Thị T1 đều xác định bà được cụ Phan Thị D trực tiếp tặng cho thửa 1143, hộ ông Nguyễn Văn T không có thực hiện thủ tục tặng cho thửa 1143 cho bà (bút lục 140-146). Bà Nguyễn Thị T1 cho rằng bà được cụ Phan Thị D trực tiếp tặng cho thửa 1143 nhưng trong quá trình giải quyết ở giai đoạn sơ thẩm, bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh.

[2.7] Như vậy, việc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 thống nhất thừa nhận không có việc tặng cho thửa 1143 cho nhau, là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặt khác, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T1 thể hiện: tại đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/10/2008 của bà T1 ghi nguồn gốc sử dụng đất do nhận thừa kế nhưng không ghi rõ nhận thừa kế của ai (bút lục 67), trong khi đó thửa 1143 của hộ ông Nguyễn Văn T đang đứng tên và thời điểm này cụ Phan Thị D còn sống; tại đơn xin miễn thuế ngày 02/10/2008 (bút lục 68) thể hiện ghi anh ruột và tại trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H001084 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho hộ ông T thể hiện ngày 25/11/2008, ghi nhận biến động cho bà Nguyễn Thị T1 do nhận chuyển nhượng. Điều này cho thấy, thủ tục thực hiện chuyển quyền thửa 1143 cho bà Nguyễn Thị T1, là không đúng quy định pháp luật. Bên cạnh đó, thửa 1143 vẫn do ông Nguyễn Văn T canh tác, trồng cây từ trước đến nay; bà Nguyễn Thị T1 không sử dụng.

[2.8] Bản án sơ thẩm nhận định: hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 4/10/2008 được xác lập giữa hộ ông Nguyễn Văn T và hộ bà Nguyễn Thị T1 chưa đảm bảo điều kiện chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 (nay là Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015). Từ đó, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn T và tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 4/10/2008 được xác lập giữa hộ ông Nguyễn Văn T và hộ bà Nguyễn Thị T1 vô hiệu, đồng thời bản án quyết định hộ ông Nguyễn Văn T được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ, phù hợp Điều 127, Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (nay là Điều 122, Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015).

[3] Bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Nguyễn Văn T trả cho bà thửa 1143, diện tích 200m² và tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị T1 tiếp tục khẳng định bà và ông T không thuận thảo nên không có việc ông Nguyễn Văn T tặng cho quyền sử dụng đất cho bà; bà cũng không ký giấy tờ tặng cho đất gì với ông Nguyễn Văn T và bà chỉ được cụ Phan Thị D trực tiếp tặng cho thửa 1143, nhưng lời trình bày của bà tại phiên tòa phúc thẩm không thống nhất, lúc thì bà cho rằng việc tặng cho giữa bà với cụ D không có lập giấy tờ; có lúc bà trình bày việc tặng cho có lập giấy tờ và mẹ bà thuê người làm nhưng bà không cung cấp chứng cứ chứng minh việc tặng cho này.

Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có điều chỉnh lại phần quyết định của bản án sơ thẩm.

[4] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, là có căn cứ.

[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí, nên bà dược miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308; Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 127, 137 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 357, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T1.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm 118/2025/DSST ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9-Đồng Tháp).

  1. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 2775/HĐTC, chứng thực số 290, quyển số 01TP/CC-SCT/HĐGD ngày 04/10/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp được ký kết gữa hộ ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 đối với thửa 1143, tờ bản đồ số 8, diện tích 200m², đất ở nông thôn, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp), là vô hiệu.
  2. Ông Nguyễn Văn T, bà Lưu Thị N, chị Nguyễn Thanh T2, chị Nguyễn Thị Bích L1, chị Nguyễn Thị Bích L2 và chị Nguyễn Thị Đ có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa 1143, tờ bản đồ số 8, diện tích đo đạc thực tế 122,6m², đất ở tại nông thôn, trong phạm vi các mốc M3, M4, M5, M6 về mốc M3, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Vị trí, tứ cận:
    • - Bắc giáp thửa số 1270 của bà Nguyễn Thị T1;
    • - Tây giáp thửa số 408 của ông Bùi Văn C;
    • - Nam giáp đường đan;
    • - Tây giáp thửa số 394 của ông Nguyễn Văn T.

    (Kèm Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 14/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C).

  3. Về chi phí tố tụng:
  4. Bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  5. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị T3.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - TAND khu vực 9 – Đồng Tháp;
  • - Phòng THADS khu vực 9 -Đồng Tháp;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • DSPT-2025-Tâm

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Lê Thị Hồng Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 800/2025/DS-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hợp đồng tặng cho qsd đất

  • Số bản án: 800/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tặng cho QSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T khởi kiện Nguyễn Thị Th yêu cầu trả diện tích 200m2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger