|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 80/2025/KDTM-ST Ngày: 26/9/2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Phước.
- Ông Trần Thanh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2025/TLST-KDTM ngày 18 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (tên viết tắt là V2). Địa chỉ: Tầng A và Tầng B, Tòa nhà S - 111 A, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay là Tầng A và Tầng B, Tòa nhà S A, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình T, chức vụ: Giám đốc Khối Mạng lưới kinh doanh Ngân hàng bán lẻ.
Ông Nguyễn Đình T ủy quyền cho: Ông Võ Văn T1, chức vụ: Giám đốc thu hồi nợ Trực tiếp và Xử lý nợ vùng. Đơn vị: Vùng Đồng Bằng Sông C, K mạng lưới kinh doanh Ngân hàng bán lẻ. Địa chỉ: số A - 02 Khu A, Trung tâm Thương mại P, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Nay là số 01 – 02 Khu A, Trung tâm Thương mại P, khu V, phường H, thành phố Cần Thơ.
Ông Võ Văn T1 ủy quyền cho: Ông Đặng Nhật D, ông Hà Phương T2, ông Ngô Thanh V1, ông Trần Thiện D1, chức vụ: Cán bộ Ngân hàng TMCP Q. Cùng địa chỉ nhận văn bản: số 01 – 02 Khu A, Trung tâm Thương mại P, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Nay là số 01 – 02 Khu A, Trung tâm Thương mại P, khu V, phường H, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Đỗ Chí T3, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Nay là ấp P, xã V, tỉnh Cà Mau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Trung L, sinh năm 1974 và bà Phạm Thị L1, sinh năm 1972; Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Nay là ấp P, xã V, tỉnh Cà Mau.
Bà Trần Lệ H, sinh năm 1959; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Nay là ấp P, xã V, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Q là ông Ngô Thanh V1 trình bày:
Theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 08/1/2022 và Hợp đồng thế chấp số [...] ngày 11/01/2022, số tiền vay 800.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động ngắn hạn mua bán vật tư nông nghiệp, thức ăn gia súc, gia cầm, bán thuốc thú y, thời hạn vay 12 tháng, từ ngày tiếp theo đến ngày giải ngân đến ngày 12/01/2023, lãi suất vay tại thời điểm giải ngân 8%/năm. Lãi suất này sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ bản theo sản phẩm cộng biên độ 3,1%/năm, trả nợ gốc cuối kỳ, trả nợ lãi vào ngày 10 hàng tháng, kỳ trả lải đầu tiên vào ngày 10/02/2022, trả phí theo quy định của V2 từng thời kỳ.
Tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 7, tờ bản đồ số 33, địa chỉ ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 548299, số vào sổ cấp GCN: CS 04027 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/11/2021, cập nhật tặng cho ông Đỗ Chí T3 ngày 18/11/2021. Tài sản này được thế chấp tại V2 theo hợp đồng thế chấp số công chứng: 000078, quyển số 01/2022-TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C, tỉnh Bạc Liêu công chứng ngày 11/01/2022 và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho V2.
Ngày 08/11/2023, V2 đã giải ngân cho ông T3 theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ (KUNN) số 2116346(1).22 ngày 08/11/2023 với số tiền là 800.000.000 đồng, theo đúng yêu cầu của ông T3 và phù hợp với HĐTD. Trong thời gian thực hiện hợp đồng tín dụng, ông T3 đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Đến thời điểm ngày 17/12/2024, ông T3 chỉ trả được 10.610.000 đồng tiền gốc và tiền lãi là 25.777.421 đồng. Mặc dù V2 đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện trả nợ, nhưng ông T3 vẫn không trả nợ. Khoản nợ của ông T3 đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 15/4/2024. Tạm tính đến ngày 17/12/2024, ông T3 còn nợ V2 với tổng số tiền là 889.443.193 đồng, trong đó: Nợ gốc: 789.390.000 đồng; Nợ lãi: 13.433.535 đồng; Lãi quá hạn: 86.619.658 đồng.
Buộc ông Đỗ Chí T3 trả ngay cho Ngân hàng TMCP Q (tên viết tắt là V2) toàn bộ số tiền chưa thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số 2116346.22 ngày 08/01/2022, tạm tính đến ngày 06/3/2025 là 919.718.872 đồng (Trong đó, nợ gốc 789.390.000 đồng, nợ lãi trong hạn 13.433.535 đồng, nợ lãi quá hạn 116.895.337 đồng). Ông Đỗ Chí T3 còn phải tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc, nợ lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 07/3/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ các khoản tiền phải trả VIB theo quy định tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp.
Kể từ ngày Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà ông Đỗ Chí T3 không trả được toàn bộ khoản nợ thì VIB được tự mình và/hoặc có quyền cơ quan thi hành án kê biên, phát mại toàn bộ tài sản thế chấp là: “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 7, tờ bản đồ số 33, địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CC 548299, số vào sổ cấp GCN: CS04027 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/11/2021 đứng tên bà Trần Lệ H, cập nhật tặng cho ông Đỗ Chí T3 ngày 18/11/2021” theo Hợp đồng thế chấp. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V2. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả khoản nợ của ông Đỗ Chí T3 với V2. Trường hợp nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Đỗ Chí T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V2.
Bị đơn ông Đỗ Chí T3 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Lệ H vắng mặt không có lời trình bày.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung L vắng mặt nhưng có lời khai trình bày: Do làm ăn với bà H; có nợ tiền thuế nên ông ký thế chấp cho nhà nước chứ không có sang bán cho bà H; ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L1 vắng mặt nhưng có lời khai trình bày: Phần đất diện tích 2518,1m2 tại thửa số 7, tờ bản đồ số 33. Do ông Đổ Trí T4 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện đang thế chấp ngân hàng để vay vốn; phần đất này là của cha, mẹ chồng chị cho lại vợ chồng chị. Trong quá trình làm ăn giữa chồng chị và mẹ ông Đổ Chí T5 là bà Trần Lệ H; chồng bà có hùn hạp với bà H; chồng bà mới thế chấp thửa đất này cho bà H vay tiền chứ vợ chồng bà không có bán cho bà H; vợ chồng bà có lại nhà bà H chuộc hai lần nhưng bà H không cho chuộc. Trong vụ án này bà không yêu cầu gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Cà Mau phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát là vi phạm Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Buộc anh Đỗ Chí T3 có nghĩa vụ trả tiền nợ vay cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 06/3/2025 là 919.718.872 đồng (gốc 789.390.000 đồng, lãi trong hạn 13.433.535 đồng, nợ lãi quá hạn 116.895.337 đồng) và lãi suất phát sinh.
Trường hợp anh T3 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Cụ thể:
Phần đất tại thửa đất số 7 tờ bản đồ số 33, diện tích 2.518,1m2, (đất ở tại nông thôn 300m2, đất trồng cây lâu năm 2.218,1m2), tọa lạc tại ấp P, xã V, tỉnh Cà Mau. Theo giấy chứng nhận QSDĐ số CC 548299, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/11/2021 cho hộ bà Trần Thị H1, điều chỉnh trang IV cập nhật tặng cho ông T3 vào ngày 18/11/2021.
Hiện trạng: Tài sản trên đất gồm có:
Hàng rào ngang 27,75m, dài 43,72m, diện tích 140,94m2. Kết cấu trụ bê tông, xây tường cao 0,7m, phía trên khung lưới B40 cao 1,2m.
Chuồng gà cao 02m, nền xi măng, diện tích 21,26m2, vách vừng thiết, khung sườn thép hộp, mái tol lạnh kẽm.
01 cây trụ điện + điện kế ngành điện
02 cây xoài đang cho trái; 02 cây mận cho trái; 20 cây chuối cho trái; 30 cây chuối đang cho trái; 07 cây mai có đường kính 07cm; một số cây tạp khác.
Phần đất và tài sản trên đất hiện bà Phạm Thị L1 đang quản lý, sử dụng.
Trong vụ án bà L1, ông L không có yêu cầu gì đối với bà H1, anh T3 nên không xem xét, giải quyết. Trường hợp có phát sinh tranh chấp, bà L1, ông L có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện độc lập khác.
Án phí và chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền vay; bị đơn không có khả năng trả nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp. Đây là tranh chấp hợp tín dụng. Đồng thời, bị đơn có trụ sở tại ấp P, xã V, tỉnh Cà Mau nên căn cứ khoản Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9, tỉnh Cà Mau.
[2] Về sự có mặt của các đương sự: Đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần Q có mặt; Bị đơn và người liên quan vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q:
Ngân hàng thương mại cổ phần Q khởi kiện yêu cầu anh Đỗ Chí T3 trả tiền nợ vay tính đến ngày 06/3/2025 là 919.718.872 đồng (gốc 789.390.000 đồng, lãi trong hạn 13.433.535 đồng, nợ lãi quá hạn 116.895.337 đồng) và lãi suất phát sinh.
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, anh T3 được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không cung cấp lời khai, mặc dù được thông báo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhưng anh T3 không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp, có cơ sở để xác định anh T3 có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần Q vào ngày 08/01/2022, vay số tiền 800.000.000 đồng (nhận nợ vào ngày 08/11/2023). Quá trình vay anh T3 trả cho Ngân hàng một phần tiền gốc và lãi suất. Hiện tại hợp đồng tín dụng đã chuyển sang nợ quá hạn. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh T3 trả nợ là có căn cứ để chấp nhận.
[2] Xét tính hợp pháp của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C vào ngày 11/01/2022:
Đối với phần đất thế chấp, bà L1, ông L đều xác định phần đất có nguồn gốc của vợ chồng ông, do có hùn hạp làm ăn với bà Trần Lệ H (mẹ ruột anh T3) nên có thế cho bà H phần đất nêu trên. Xét thấy, theo giấy chứng nhận QSDĐ số CC 548299, thể hiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/11/2021 cho hộ bà Trần Lệ H đứng tên, tại phần điều chỉnh trang IV cập nhật tặng cho ông T3 vào ngày 18/11/2021. Phía bà L1, ông L không xác định rõ lý do tại sao lại chuyển quyền sử dụng đất cho hộ bà H đứng tên và xác định trong vụ án không có yêu cầu gì. Do đó, không có cơ sở để xem xét giao dịch phát sinh giữa ông L với bà H, cũng không có cơ sở xem xét thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho hộ bà H, anh T3 đứng tên.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên thể hiện anh T3 đồng ý thế chấp quyền sử dụng đất do anh T3 đứng tên để bảo đảm cho khoản tại Ngân hàng. Khi ký kết hợp đồng các bên đều tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối, phần đất nêu trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh T3. Mặt khác, hợp đồng thế chấp được công chứng đúng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực tại thời điểm các bên ký kết.
[3]Trường hợp anh T3 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Cụ thể:
Phần đất tại thửa đất số 7 tờ bản đồ số 33, diện tích 2.518,1m2, (đất ở tại nông thôn 300m2, đất trồng cây lâu năm 2.218,1m2), tọa lạc tại ấp P, xã V, tỉnh Cà Mau. Theo giấy chứng nhận QSDĐ số CC 548299, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/11/2021 cho hộ bà Trần Thị H1, điều chỉnh trang IV cập nhật tặng cho ông T3 vào ngày 18/11/2021.
Hiện trạng: Tài sản trên đất gồm có:
Hàng rào ngang 27,75m, dài 43,72m, diện tích 140,94m2. Kết cấu trụ bê tông, xây tường cao 0,7m, phía trên khung lưới B40 cao 1,2m.
Chuồng gà cao 02m, nền xi măng, diện tích 21,26m2, vách vừng thiết, khung sườn thép hộp, mái tol lạnh kẽm.
01 cây trụ điện + điện kế ngành điện
02 cây xoài đang cho trái; 02 cây mận cho trái; 20 cây chuối cho trái; 30 cây chuối đang cho trái; 07 cây mai có đường kính 07cm; một số cây tạp khác.
[4]Phần đất và tài sản trên đất hiện bà Phạm Thị L1 đang quản lý, sử dụng. Do đó cần buộc bà L1, ông L, ông T3 có nghĩa vụ giao tài sản trên cho ngân hàng để ngân hàng tiến hành bán đấu giá theo quy định.
Bà L1, ông L không có yêu cầu gì đối với bà H1, anh T3 nên không xem xét, giải quyết. Trường hợp có phát sinh tranh chấp, bà L1, ông L có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện độc lập khác.
[5] Về chi phí đo đạc, thẩm định: Ngân hàng thương mại cổ phần Q dự nộp số tiền là 4.862.982 đồng đã chi hết nên buộc ông Đỗ Chí T3 có nghĩa vụ nộp số tiền 4.862.982 đồng để hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
[6] Về án phí: Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch buộc cho anh Đỗ Chí T3 phải nộp số tiền là 39.591.566 đồng; Ngân hàng thương mại cổ phần Q dự nộp số tiền 19.795.000 đồng tại biên lai thu số 0003340 ngày 18 tháng 4 năm 2025 sẽ được hoàn lại trong giai đoạn thi hành án.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92; điểm c khoản 2 Điều 217; Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 94; Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Buộc anh Đỗ Chí T3 có nghĩa vụ trả tiền nợ vay cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 06/3/2025 là 919.718.872 đồng (gốc 789.390.000 đồng, lãi trong hạn 13.433.535 đồng, nợ lãi quá hạn 116.895.337 đồng) và lãi suất phát sinh.
Kể từ ngày 07/3/2025 anh Đỗ Chí T3 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho sự phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Buộc ông Đỗ Chí T3, bà Phạm Thị L1, ông Nguyễn Văn L2 có nghĩa vụ giao các tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản trên đất để Ngân hàng thương mại Cổ phần Q yêu cầu bán đấu giá tài sản để thu hồi nợ cụ thể:
Phần đất tại thửa đất số 7 tờ bản đồ số 33, diện tích 2.518,1m2, (đất ở tại nông thôn 300m2, đất trồng cây lâu năm 2.218,1m2), tọa lạc tại ấp P, xã V, tỉnh Cà Mau. Theo giấy chứng nhận QSDĐ số CC 548299, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 11/11/2021 cho hộ bà Trần Thị H1, điều chỉnh trang IV cập nhật tặng cho ông T3 vào ngày 18/11/2021 được định vị như sau:
Hướng đông giáp đất ông Nguyễn Văn T6 có cạnh dài 106,38m
Hướng tây giáp đất ông Nguyễn Văn K1 có cạnh dài 105,58m.
Hướng nam giáp với đường bê tông có cạnh dài 25,85m.
Hướng bắc giáp thửa 711 tờ bản đồ số 12 có cạnh dài 20,85m.
Hiện trạng: Tài sản trên đất gồm có:
Hàng rào ngang 27,75m, dài 43,72m, diện tích 140,94m2. Kết cấu trụ bê tông, xây tường cao 0,7m, phía trên khung lưới B40 cao 1,2m.
Chuồng gà cao 02m, nền xi măng, diện tích 21,26m2, vách vừng thiết, khung sườn thép hộp, mái tol lạnh kẽm.
01 cây trụ điện + điện kế ngành điện
02 cây xoài đang cho trái; 02 cây mận cho trái; 20 cây chuối cho trái; 30 cây chuối đang cho trái; 07 cây mai có đường kính 07cm; một số cây tạp khác.
3. Về chi phí đo đạc, thẩm định: Ngân hàng thương mại cổ phần Q dự nộp số tiền là 4.862.982 đồng đã chi hết nên buộc ông Đỗ Chí T3 có nghĩa vụ nộp số tiền 4.862.982 đồng để hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
4. Về án phí: Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch buộc cho anh Đỗ Chí T3 phải nộp số tiền là 39.591.566 đồng; Ngân hàng thương mại cổ phần Q dự nộp số tiền 19.795.000 đồng tại biên lai thu số 0003340 ngày 18 tháng 4 năm 2025 sẽ được hoàn lại trong giai đoạn thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Lê Văn Đẹp |
Bản án số 80/2025/KDTM-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 80/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
