|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LẠNG SƠN Bản án số: 80/2025/HS-ST Ngày 26-11-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Loan.
Bà Trần Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Hồng Trâm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Phạm Đăng Bằng và bà Dương Thu Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2025/TLST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 11 năm 2025; Thông báo chuyển ngày xét xử vụ án hình sự số 09/2025/TB-TA ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đối với:
- Bị cáo: Toàn Minh D, sinh ngày 08/4/1986 tại tỉnh Lạng Sơn; Căn cước công dân số [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số A đường T, khối E, phường K, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Cán bộ Ngân hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Toàn Văn N, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1962; có vợ là Lê Minh T, sinh năm 1986 và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa lần nào bị xét xử, xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/9/2025 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Kiều T1, sinh năm 2001; địa chỉ: K, phường K, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ khoảng đầu năm 2020, Toàn Minh D quen biết và nảy sinh quan hệ tình cảm với Nguyễn Kiều T1, sinh năm 2001, trú tại khối P, phường K, tỉnh Lạng Sơn. Đến khoảng đầu năm 2022, Toàn Minh D thấy T1 không có phương tiện đi lại nên D đã mua cho Nguyễn Kiều T1 01 (một) chiếc xe ô tô con nhãn hiệu Vinfast fadil, màu trắng, biển số 15A - 921.84 (xe đã qua sử dụng) với giá 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng) tại cửa hàng bán xe ô tô ở khu vực ngã 4, C (không rõ địa chỉ). Sau khi mua, D giao chiếc xe trên để cho T1 quản lý, sử dụng. Đến khoảng tháng 3/2024, Toàn Minh D và Nguyễn Kiều T1 làm thủ tục đăng ký sang tên đổi chủ chiếc xe ô tô trên cho Nguyễn Kiều T1 là chủ sở hữu và đăng ký đổi biển số xe từ 15A - 921.84 sang biển số 12A - 224.44 đối với chiếc xe ôtô trên.
Đến khoảng tháng 5/2025, do biết Toàn Minh D đã có gia đình và lo ngại ảnh hưởng đến tương lai của mình nên Nguyễn Kiều Trang chủ Đ muốn chấm dứt mối quan hệ tình cảm với Toàn Minh D nhưng D không đồng ý và tìm nhiều lý do để gây khó dễ với T1, thậm chí đòi lại các vật phẩm, quà tặng đã tặng cho Nguyễn Kiều T1 từ trước đó để T1 phải quay lại quan hệ tình cảm với mình nhưng Nguyễn Kiều T1 kiên quyết chấm dứt quan hệ với D, Nguyễn Kiều T1 tỏ thái độ lẩn tránh, không gặp mặt và không liên lạc với Toàn Minh D.
Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 29/7/2025, Toàn Minh D một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh, biển số 29K7 - 7506 đi từ nhà đến khu vực sân P (H) thuộc khu đô thị P, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn để lấy chiếc xe ôtô nhãn hiệu Vinfast fadil, màu trắng, biển số 12A - 224.44 của Nguyễn Kiều T1 đem đi cất giấu. Toàn Minh D đi đến trước cửa sân Pickleball thì nhìn thấy xe ôtô biển số 12A - 224.44 đang đỗ ở lề đường gần sát với Phòng khám Đ1. Toàn M để xe môtô ở khu vực gần đó rồi đi bộ vào trong sân bóng Pickleball A và đi đến vị trí sân bóng số 5 nơi để túi xách của T1. D quan sát xung quanh không thấy Nguyễn Kiều T1, Dương mở ba lô của T1 để lấy chìa khoá xe ô tô rồi đi ra vị trí chiếc xe ô tô mở cửa và khởi động xe rồi điều khiển xe ôtô đi đến nhà số B đường T, phường L, tỉnh Lạng Sơn (khu nhà tập thể cũ của Ngân hàng B). Toàn Minh D điều khiển xe ôtô đi vào sân đỗ xe và tháo biển số của xe để vào trong cabin rồi cất giấu xe ôtô ở đó. Sau đó, Toàn Minh D đi xe taxi quay lại sân Pickleball A ở khu đô thị P, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn lấy xe môtô của mình rồi điều khiển xe đi về nhà.
3
Khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Kiều T1 đánh bóng P xong đi ra lấy xe để về nhà thì phát hiện bị mất xe ôtô nên đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc và đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐĐG ngày 10/9/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Chiếc xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại FADIL, loại xe ô tô con, màu sơn trắng, không gắn biển kiểm soát, số máy LV7213270031, số khung: RPXCA2FACMV024327, xe đã qua sử dụng, có giá trị 189.390.000(một trăm tám mươi chín triệu ba trăm chín mươi nghìn)đồng.
Tại Kết luận giám định số 894/KL-KTHS ngày 09/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận nội dung giám định kỹ thuật số, điện tử: 02 tệp tin video gửi giám định không phát hiện cắt ghép, chỉnh sửa.
Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSKV1 ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Toàn Minh D về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận bản thân chưa nhận thức rõ được pháp luật hình sự nên bị cáo chỉ nghĩ đơn giản chiếc xe trên là của bị cáo mua cho chị T1, bị cáo muốn chị T1 quay lại nên đã lấy xe ô tô lại nay bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo rất ân hận và đã bồi thường thêm cho bị hại 50.000.000 đồng, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để được tiếp tục đi làm.
Công bố lời khai, đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị hại vắng mặt, chị Nguyễn Kiều T1 trình bày: Chị thừa nhận bị cáo đã lấy chiếc xe của chị, bị cáo đã bồi thường cho chị số tiền 50.000.000 đồng và chị đã được cơ quan điều tra trả lại xe ô tô biển kiểm soát 12A - 224.44; bị cáo nhất thời phạm tội, đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Toàn Minh D phạm tội "Trộm cắp tài sản"; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 50; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Toàn Minh D từ 24 đến 30 tháng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, căn cứ khoản 5 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử lưu hồ sơ vụ án đối với 02 đĩa DVD-R đã giám định kỹ thuật số, điện tử; bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
4
Trong phần tranh luận, bị cáo nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để được đi làm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên toà, vắng mặt bị hại chị Nguyễn Kiều T1. Hội đồng xét xử xét thấy bị hại vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục xét xử.
[3] Xét lời khai nhận thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Toàn Minh D có hành vi lợi dụng không ai để ý lấy chìa khoá và trộm cắp chiếc xe ôtô nhãn hiệu Vinfast fadil, màu trắng, biển số 12A - 224.44 của chị Nguyễn Kiều T1, trị giá tài sản là 189.390.000 đồng, sau đó tháo biển kiểm soát, cất giấu xe, với mục đích chiếm đoạt nhằm dùng vào việc níu kéo tình cảm với bị hại. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu được thu thập hợp pháp khác có trong hồ sơ được chấp nhận. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo và để có mức án phù hợp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương; bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn có khả năng nhận biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, bị cáo phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt. Để có mức án phù hợp, Hội đồng xét xử đánh giá tính
5
chất vụ án, các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:
[5] Giữa bị cáo và bị hại có quan hệ tình cảm nam nữ với nhau, bị cáo đã mua cho bị hại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Fadil, biển kiểm soát 15A-921.84 và tháng 3/2024, bị cáo làm thủ tục sang tên đổi chủ đứng tên bị hại và có biển kiểm soát 12A-22.444. Đây là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Kiều T1. Để níu kéo tình cảm khi bị chị Nguyễn Kiều T1 lẩn tránh, từ chối. Thay vì lựa chọn chấp nhận chấm dứt quan hệ tình cảm không đúng pháp luật và đạo đức xã hội, thì bị cáo lại lựa chọn cách ứng xử khác vi phạm pháp luật, thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt tài sản của bị hại, dùng tài sản đó để níu giữ tình cảm. Hành vi này đã vi phạm pháp luật do sự thiếu hiểu biết của bị cáo về quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật.
[6] Về nhân thân, bị cáo Toàn Minh D có nhân thân tốt, nhất thời lần đầu phạm tội; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào khác; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; năm 2014 và 2020, bị cáo được Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ2 công nhận danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở và Giấy khen hoàn thành tốt nhiệm vụ; bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần ấn định mức án phù hợp với hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, trong cuộc sống, quá trình làm việc bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại cơ quan, địa phương; có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo có nguyện vọng được tiếp tục đi làm và cam kết thực hiện tốt quy định của cơ quan, của địa phương. Đối chiếu văn bản số 03/VBHN-TANDTC, ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo, đảm bảo tính khoan hồng của Nhà nước.
[7] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không đứng tên tài sản gì. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Tại Cơ quan điều tra, giữa bị cáo và bị hại đã tự nguyện thoả thuận bồi thường xong cho bị hại chị Nguyễn Kiều T1. Cụ thể cần xác nhận bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại với số tiền 50.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên
6
Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 5 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với 02 đĩa DVD-R đã giám định kỹ thuật số, điện tử là chứng cứ phạm tội nên cần lưu giữ theo hồ sơ vụ án. Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Fadil, màu trắng, biển kiểm soát 12A-22.444 xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Kiều T1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 50; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 5 Điều 107; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Toàn Minh D phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/11/2025.
Giao bị cáo Toàn Minh D cho Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Toàn Minh D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án
7
có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Lưu tại hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD-R đã giám định kỹ thuật số, điện tử.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án)
- Về án phí: Buộc bị cáo Toàn Minh D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản sao Bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |
Bản án số 80/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LẠNG SƠN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 80/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Toàn Minh D phạm tội
