TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 790/2025/DS-PT Ngày: 16-12-2025 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Mai.
Các Thẩm phán: Bà Dương Thuý Hằng;
Ông Đinh Tiền Phương.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hường, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Châu, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 544/2025/DS-PT ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 703/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Đặng Văn G, sinh năm 1990. Địa chỉ: khu phố L, phường A, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của anh G:
Anh Trần Minh T, sinh năm 1984; Địa chỉ: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (có mặt);
Chị Phạm Thị Thúy A, sinh năm 1988; Địa chỉ: khu phố L, phường G, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1967; Địa chỉ: khu phố L, phường A, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
3. Người kháng cáo: Anh Đặng Văn G là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Đặng Văn G trình bày: Bà Đặng Thị L là cô ruột của anh. Anh yêu cầu bà L có nghĩa vụ trả lại cho anh quyền sử dụng phần đất có diện tích 73,9 m², thuộc 01 phần thửa đất số 279, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại khu phố L, phường A, tỉnh Tây Ninh, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 21-9-2011, số CH07166, diện tích được cấp 769,5 m².
Lý do yêu cầu: Đất có nguồn gốc của nội anh là cụ Trương Thị S (sinh 1930 - chết 2018) chia cho anh, lúc đó cha anh còn sống nhưng bà nội anh cùng các cô chú thống nhất là chia cho anh, do cha anh có vợ khác.
Khi chia đất không có ranh đất rõ ràng, sau khi chia các cô chú mới tự xác định ranh và xây dựng nhà trên đất.
Lúc chia anh chỉ biết vị trí khu đất anh được cho, không biết ranh đất ở vị trí nào và diện tích bao nhiêu, chiều ngang, chiều dài bao nhiêu anh cũng không biết. Các cô chú tự đi làm giấy đất và đem giấy về giao lại cho anh cất giữ.
Sau khi được chia anh cũng không xác định ranh, không làm hàng rào, anh sử dụng đất để trồng đổ hàng bông, sau đó thì trồng cao su được mấy năm anh chặt bỏ cao su và để đất trống nay khoảng 03 năm.
Năm 2023, anh chia đất lại cho các anh chị em trong gia đình, lúc này anh nhờ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đo đạc để chia thì mới phát hiện bà L xây nhà lấn đất của anh. Cùng thời gian này anh làm hàng rào xung quanh đất thì tại vị trí giáp ranh với đất của bà L anh không làm được do 02 bên không thống nhất ranh.
Khi anh phát hiện (năm 2023) thì bà L đã xây nhà trên đất. Vị trí bà L xây nhà là từ ranh trụ xi măng phía mặt tiền đất trở vào phần đất của bà L, ranh nay lúc chia đất do các cô chú anh đã xác định, còn ở cuối đất thì không còn trụ xi măng do khi có tranh chấp anh cắm lại ranh lại bị bà L nhổ bỏ. Theo anh bà L xây nhà sau khi các bên được chia đất, tức không phải năm 2008 như bà L trình bày, còn bà L xây dựng nhà năm nào thì anh không biết, anh được cấp giấy năm nào anh cũng không biết. Do vậy khi bà L xây nhà anh không biết để ngăn cản. Năm 2024 anh khởi kiện bà L đến nay.
Nay anh yêu cầu bà L tháo dỡ nhà để trả lại cho anh 73,9 m² đất, anh hỗ trợ cho bà L 2.000.000 đồng để bà L tháo dỡ nhà giao đất lại cho anh. Anh không đồng ý nhận giá trị quyền sử dụng đất với giá bằng tiền.
Tại phiên tòa anh trình bày nếu trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu tháo dỡ nhà mà tuyên buộc bà L trả lại anh với giá trị bằng tiền thì anh không chấp nhận với số tiền bồi thường theo giá mà Hội đồng định giá đã định, đồng thời anh có yêu cầu định giá lại tài sản tranh chấp.
Bị đơn bà Đặng Thị L trình bày:
Bà không chấp nhận theo yêu cầu của anh G. Lý do: Đất của bà (thửa 805) giáp ranh với đất của Guồi (thửa 279). Cả 02 phần đất này đều có nguồn gốc do cha mẹ bà là cụ Đặng Văn L1 (sinh 1930-chết 1972) và cụ Trương Thị S (sinh 1930 - chết 2018) để lại.
Năm 2011, mẹ bà và các anh em trong gia đình thống nhất chia đất ra 06 phần gồm: Phần của mẹ khoảng 43 mét ngang; phần ông Đặng Văn N 30 mét ngang; bà Đặng Thị N1 27 mét ngang; ông Đặng Văn P 30 mét ngang + phần đất ruộng; Đặng Văn R (cha Guồi) 40 mét ngang; phần của bà là 27 mét ngang. Khi được cấp giấy bà không xem kỹ giấy, cho đến khi phát sinh tranh chấp thì bà xem lại giấy đất thì giấy của bà chỉ có 24 mét ngang. Phần của G tăng lên thành 42 mét ngang.
Trước khi được chia đất, vào khoảng cuối năm 2008 bà đã xây căn nhà tường cấp 4 (hiện 01 phần căn nhà nằm trên phần đất tranh chấp), vị trí đất do mẹ bà chỉ ranh. Do vậy khi làm thủ tục giấy tờ để chia đất (năm 2011), bà được chia tại vị trí mà căn nhà bà đã xây dựng trước đó. Đến năm bà 2023, bà có sửa nhà thay mái tole do nhà bị dột và sử dụng cho đến nay.
Giữa đất của bà và đất của G trước đây có cắm ranh là 02 trụ xi măng tại vị trí đầu và cuối đất, dọc theo 02 trụ xi măng này là đường bờ (dạng bờ ruộng) vị trí này cũng là vị trí mà mẹ bà xác định ranh khi cho đất bà, bà căng dây giữa 02 đầu và trồng thêm 02 ở trụ giữa. Cho đến hiện tại thì các trụ xi măng ở vị trí đầu và giữa vẫn còn. Còn trụ cuối đất thì anh G đã nhổ bỏ, anh G trồng trụ khác lấn vào đất của bà, bà không chấp nhận nên đã nhổ bỏ, hiện tại vị trí cuối đất không còn ranh.
Theo bà việc đo đạc khi cấp giấy đất có sự sai sót nên đã đo lấn vào phần đất có căn nhà của bà nằm trong giấy đất của anh G, hiện giấy đất không đúng với ranh thực tế sử dụng đất của bà.
Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 73,9 m² tại vị trí có căn nhà của bà, điều chỉnh từ giấy đất của anh G qua cho bà được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Văn G về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bà Đặng Thị L.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với anh Đặng Văn G: Công nhận cho bà Đặng Thị L được quyền sử dụng phần đất có diện tích 73,9 m², loại đất chuyên trồng lúa nước, thuộc 01 phần thửa đất số 279, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại khu phố L, phường A, tỉnh Tây Ninh, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do anh Đặng Văn G đứng tên, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 21-9-2011, số CH07166. Tứ cận: Đông giáp đường đất dài 1,53 mét; Tây giáp thửa 256 dài 1,83 mét; Nam giáp thửa 805 (bà L) dài 41,03 mét + 4,25 mét; Bắc giáp thửa 279 (anh G) dài 41,09 mét + 4,32 mét.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18-8-2025, nguyên đơn có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn và bị đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất 4,3 m² thuộc thửa số 256.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Việc bà L cắm ranh đất không có sự đồng ý của các bên giáp ranh là không phù hợp với Giấy chứng nhận QSDĐ được cấp. Lời khai của người làm chứng là họ hàng của bị đơn nên không khách quan; trưởng ấp có lời khai xác định bà L cất nhà sau khi được chia đất. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bị đơn, huỷ và đình chỉ một phần việc giải quyết vụ án đối với diện tích đất 4,3 m² thuộc thửa số 256, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của anh G, nộp trong thời hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2] Về nội dung:
Về việc rút một phần một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp diện tích đất 4,3 m² thuộc thửa số 256: Tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn thống nhất rút yêu cầu khởi kiện đối với phần diện tích đất này, việc rút đơn khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử chấp nhận, huỷ và đình chỉ giải quyết vụ án đối với phần yêu cầu tranh chấp diện tích đất nêu trên.
Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Phần đất tranh chấp còn lại có diện tích 69,3 m², loại đất chuyên trồng lúa nước, thuộc 01 phần thửa đất số 279, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại khu phố L, phường A, tỉnh Tây Ninh, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07166 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 21-9-2011 cho anh Đặng Văn G.
Hiện trạng, trên phần đất tranh chấp có 01 phần căn nhà cấp 4 do bà L xây dựng (diện tích 69,6 m² toàn bộ căn nhà có diện tích 72,2 m²); 01 phần chuồng bò do bà L xây dựng.
Phần đất tranh chấp, các anh chị em của bà L, kể cả mẹ của anh G đều thừa nhận bà L đã được cụ S chỉ định vị trí đất và sử dụng đất xây dựng nhà ở từ trước khi gia đình bà L, anh G phân chia đất. Đến năm 2011, cụ S và các con trong gia đình thống nhất chia đất ra 06 phần, trong đó, phần của ông Đặng Văn R (là cha anh Guồi) anh G được nhận thay. Các anh em bà L xác định vị trí đất họ được chia cũng không đúng với vị trí được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, anh G cho rằng bà L xây dựng nhà lấn đất của anh là không đúng với thực tế. Hơn nữa, từ khi được chia đất anh G cũng không biết ranh đất của 2 bên ở vị trí nào. Anh G cũng thừa nhận vào năm 2023 anh đo đất lại thì mới biết bà L đã cất nhà và có 01 phần vị trí căn nhà trên đất của anh nên anh khởi kiện yêu cầu bà L đến nay.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, anh Đặng Văn G.
[4] Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về đề nghị Hội đồng xét xử huỷ và đình chỉ một phần việc giải quyết vụ án, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ.
[5] Về án phí phúc thẩm dân sự: do kháng cáo của anh G được chấp nhận nên anh G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Huỷ một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu tranh chấp diện tích đất 4,3 m² thuộc thửa số 256, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại khu phố L, phường A, tỉnh Tây Ninh. Anh Đặng Văn G có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, anh Đặng Văn G Giữ nguyên 01 phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 73/2025/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.
Căn cứ các điều 164, 166 của Bộ luật Dân sự; các điều 99, 100, 166 và 170 của Luật Đất đai năm 2013; điều 26, 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Văn G về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bà Đặng Thị L.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với anh Đặng Văn G.
- Bà Đặng Thị L được quyền sử dụng phần đất có diện tích 76,2 m², loại đất chuyên trồng lúa nước, thuộc 01 phần thửa đất số 279, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại khu phố L, phường A, tỉnh Tây Ninh, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH07166 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 21-9-2011 cho anh Đặng Văn G.
Tứ cận: Đông giáp đường đất dài 1,56 m; Tây giáp thửa 256 dài 1,83 m; Nam giáp thửa 805 (bà L) dài 41,03 m + 4,25 m; Bắc giáp thửa 279 (anh G) dài 41,09 m + 4,32 m.
Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền thu hồi và điều chỉnh biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà L, anh G để cấp lại cho đương sự phù hợp với quyết định của Bản án này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh G phải chịu 300.000 đồng án phí. Ghi nhận anh G đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000677 ngày 04-11-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Tây Ninh) anh G đã nộp đủ tiền án phí. Hoàn trả bà L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002145 ngày 04-8-2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 - Tây Ninh.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tranh chấp: Buộc anh G phải chịu 21.800.000 đồng. Ghi nhận anh G đã nộp tạm ứng số tiền này và đã chi xong.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Anh Đặng Văn G phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại biên lai thu số 0003697 ngày 29 tháng 8 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Hồng Mai |
Bản án số 790/2025/DS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 790/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn G "tranh chấp quyền sử dụng đât" Đặng Thị L
