|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG Bản án số: 79/HS-ST Ngày 17 tháng 12 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Yến và ông Trần Thanh Việt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Trần Trung T
(tên gọi khác: không), sinh ngày 06 tháng 6 năm 1997. Giới tính: nam. Nơi sinh: phường L, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: số D T, Khóm C, phường L, tỉnh An Giang và phòng số 5 – Nhà trọ K, tổ S, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: làm thuê. Họ tên cha: Lê Vũ Q, sinh năm 1969; họ tên mẹ: Trần Thị Kim P, sinh năm 1974. Bị cáo là con duy nhất và chưa có vợ con. Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 12 tháng 8 năm 2025 đến nay tại Phân trại tạm giam Chợ M. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Em Trần Thị Phương T1, sinh ngày 12/6/2008
- Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 2000
- Bà Phan Thị Trúc X, sinh năm 2002
- Bà Lương Ngọc H, sinh năm 2004
- Bà Ngô Uyên P1, sinh năm 2000
- Em Võ Ngọc Bảo T3, sinh ngày 31/8/2008
- Bà Trần Thị Mỹ N, sinh năm 2004
- Bà Nguyễn Phạm Kim T4, sinh năm 2000
- Bà Trần Thị Kim N1, sinh năm 1996
- Bà Nguyễn Huỳnh Phương T5, sinh năm 1995
- Bà Lê Thị Kim T6, sinh năm 2004;
Địa chỉ cư trú: Số C, khóm T, phường M, tỉnh An Giang;
Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Kim T2, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: Số C, khóm T, phường M, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Số D, đường H, khóm B, phường B, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Số F, khóm T, phường L, tỉnh An Giang (vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã A, tỉnh An Giang (vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Số C khóm T, phường M, tỉnh An Giang;
Người đại diện hợp pháp: Bà Võ Thị Trường A, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Số A đường N, phường B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Số C, khóm T, phường M, tỉnh An Giang (vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Số B, đường C, phường C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Số E, Tổ A, ấp M, xã M, tỉnh An Giang (vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Số I, khóm B, phường B, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin tố giác của quần chúng nhân dân về việc tại Phòng trọ số 05, Nhà T, địa chỉ tổ S, khóm B, phường B, tỉnh An Giang có đối tượng thực hiện hành vi cho vay lãi nặng, Phòng C Công an tỉnh A phối hợp cùng Công an phường B tiến hành kiểm tra hành chính tại địa chỉ trên. Tại thời điểm kiểm tra, trong Phòng trọ số 5 có mặt Lê Trần Trung T. Qua kiểm tra, lực lượng công an phát hiện thu giữ 01 quyển tập học sinh có chữ HAPPY BRITH màu trắng - chữ TÝ HON màu đỏ, bên trong có 25 trang ghi nội dung vay nợ và ngày tháng năm đóng lãi; 01 quyển tập học sinh có chữ CAKE màu nâu, bên trong có 19 trang ghi nội dung vay nợ và ngày tháng năm đóng lãi; 01 quyển sổ bìa bằng nhựa trong suốt bên trong có in giấy vay tiền; 14 tờ giấy tập học sinh có ghi tên của người vay tiền; 01 quyển sổ có bìa bằng nhựa trong suốt bên trong có 01 tờ giấy kẻ ngang đã ghi giấy vay tiền, nên lực lượng công an đã lập biên bản thu giữ tang vật và mời T về cơ quan Công an phường B làm việc. Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại Công an phường B, T đầu thú khai nhận thực hiện hành vi cho vay lãi nặng của mình.
Qua quá trình điều tra xác định: T khai nhận, do cần tiền tiêu xài nên từ tháng 01 năm 2024, T bắt đầu thực hiện hành vi cho vay để lấy tiền lãi. Hình thức cho vay mỗi lần từ 1.000.000 đồng đến 5.500.000 đồng, người vay trả lãi theo ngày, lãi suất từ 30%/tháng đến 48%/tháng, trả lãi bằng hình thức chuyển khoản vào 02 tài khoản là 070092198489 tên LE TRAN TRUNG TIN mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Chi nhánh A1 và số tài khoản là 3979793997 tên LE TRAN TRUNG TIN mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 – Chi nhánh A1. Khi vay, người vay có ghi biên nhận nợ, T không giữ giấy tờ cá nhân, yêu cầu người vay chụp ảnh khỏa thân và chụp ảnh căn cước công dân gửi cho T thông qua mạng xã hội Zalo tên “Tính”. Trong quá trình vay, người vay muốn vay thêm tiền, T sẽ thỏa thuận cho T quan hệ tình dục, quay lại video và người vay đồng ý sẽ được vay thêm. Với phương thức, thủ đoạn trên từ tháng 01 năm 2024 đến ngày 12 tháng 8 năm 2025, T đã cho 11 người vay, với tổng số tiền cho vay là 85.500.000 đồng, thu lợi bất chính tổng cộng 176.031.111 đồng, cụ thể:
- - Từ ngày 13 tháng 02 năm 2024 đến ngày 05 tháng 6 năm 2025, cho chị Lê Thị Kim T6 vay 11 lần, tổng số tiền vay 12.000.000 đồng, mức lãi suất từ 30%/ tháng đến 42%/tháng. T thu lợi bất chính với số tiền là 39.324.167 đồng.
- - Từ ngày 03 tháng 4 năm 2024 đến ngày 01 tháng 07 năm 2024, cho chị Nguyễn Thị Thùy D vay 06 lần, tổng số tiền vay 10.000.000 đồng, mức lãi suất 30%/tháng đến 45%/tháng. T thu lợi bất chính 33.232.222 đồng.
- - Từ ngày 01 tháng 11 năm 2024 đến ngày 25 tháng 6 năm 2025, cho chị Nguyễn Thị Kim N2 vay 09 lần, tổng số tiền vay 10.000.000 đồng, đã trả 4.000.000 đồng tiền gốc, mức lãi suất từ 45%/ tháng đến 48%/tháng. T thu lợi bất chính 16.248.889 đồng.
- - Từ ngày 01 tháng 12 năm 2024 đến ngày 31 tháng 5 năm 2025, cho chị Ngô Uyên P1 vay 08 lần, tổng số tiền vay 10.000.000 đồng, mức lãi suất 45%/tháng. T thu lợi bất chính 25.696.667 đồng.
- - Từ ngày 08 tháng 12 năm 2024 đến ngày 29 tháng 7 năm 2025, cho chị Nguyễn Thị Kim T7 vay 04 lần, tổng số tiền vay 5.000.000 đồng, mức lãi suất 45%/tháng. T thu lợi bất chính 8.738.889 đồng.
- - Từ ngày 23 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 6 năm 2025, cho em Trần Thị Phương T1 vay 07 lần, tổng số tiền vay 10.000.000 đồng, với mức lãi suất 30%/tháng. T thu lợi bất chính 6.044.444 đồng.
- - Ngày 01 tháng 01 năm 2025, cho chị Phan Thị Trúc X vay 5.500.000 đồng, với mức lãi suất 33%/tháng. T thu lợi bất chính 12.584.722 đồng.
- - Ngày 11 tháng 01 năm 2025 đến ngày 06 tháng 4 năm 2025, cho chị Lương Ngọc H vay 6.000.000 đồng, với mức lãi suất 45%/tháng, đã trả gốc 2.000.000 đồng. Tín thu thu lợi bất chính là 6.052.222 đồng.
- - Từ ngày 01 tháng 3 năm 2025 đến ngày 05 tháng 02 năm 2025, cho chị Nguyễn Huỳnh Phương T5 vay 05 lần, tổng số tiền vay 10.000.000 đồng, mức lãi suất 45%/tháng. T thu lợi bất chính 24.295.556 đồng.
- - Từ ngày 15 tháng 5 năm 2025 đến ngày 24 tháng 6 năm 2025, cho chị Trần Thị Mỹ N vay 05 lần, tổng số tiền vay 6.000.000 đồng, với mức lãi suất 45%/ tháng. T thu lợi bất chính 3.640.000 đồng.
- - Ngày 28 tháng 7 năm 2025, cho em Võ Ngọc Bảo T3 vay 1.000.000 đồng, với mức lãi suất 45%/tháng. T thu lợi bất chính 173.333 đồng.
Vật chứng và tài sản thu giữ được:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, model Iphone 14 Pro, có số IMEI 1: 352228709704598 và số IMEI 2: 35228708924155;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu đen;
- - 01 (một) quyển tập học sinh có chữ HAPPY BRITH màu trắng - chữ TỶ HON màu đỏ, 01 quyển tập học sinh có chữ CAKE màu nâu, 01 quyển sổ có bìa bằng nhựa trong suốt, 01 tờ giấy tập học sinh có ghi tên của người vay tiền, 01 quyển sổ có bìa bằng nhựa trong suốt.
* Kết luận số 747/KL-KTHS ngày 01 tháng 10 năm 2025 của Phòng C Công an tỉnh A:
- - Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số IMEI 1: 352228709704598 và số IMEI 2: 352228708924155 (ký hiệu A1) do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong USB lưu trữ dữ liệu trích xuất kèm theo.
- - Đới với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (ký hiệu A2), do điện thoại không mở nguồn được, không truy cập được thiết bị nên không tiến hành giám định trích xuất dữ liệu lưu trữ.
Kèm theo kết luận giám định: 01 USB nhãn hiệu Kingston loại dung lượng 64GB (lưu trữ dữ liệu có tổng dung lượng 22,1 GB, file nén có mã MD5: 17B7FDC09C94CC5D2EA0AD7CA041E246, trong thư mục “Vụ 747.2025”).
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSKV9 ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang đã truy tố bị cáo Lê Trần Trung T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo T thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017: đề nghị xử phạt bị cáo Lê Trần Trung T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng tù đến 01 (một) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền gốc bị cáo Lê Trần Trung T đã sử dụng để cho vay lãi nặng là 85.500.000 đồng và số tiền thu lợi bất chính là 176.031.111 đồng. Đối với vật chứng, đề nghị thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu đen.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những người vay tiền của bị cáo T. Xét thấy, trong quá trình điều tra, những người này đã cung cấp lời khai và nội dung lời khai phù hợp với nội dung vụ án. Do đó, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử và căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo T thừa nhận hành vi của mình, sự thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, đủ cơ sở để xác định, từ tháng 01 năm 2024 đến ngày 12 tháng 8 năm 2025, bị cáo T đã có hành vi cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay lãi nặng để thu lợi bất chính với mức lãi suất dao động từ 30% đến 48% mỗi tháng, tức mức lãi suất Tín cho vay là từ 360%/năm đến 576%/năm, cụ thể như sau:
- - Đối với Nguyễn Thị Thùy D, tiền vốn vay là 10.000.000 đồng, vay 491 ngày, trả lãi tổng số tiền là 34.590.000 đồng. Lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự số tiền lãi T được phép thu là 1.357.778 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 33.232.222 đồng;
- - Đối với Võ Ngọc Bảo T3, tiền vốn vay là 1.000.000 đồng, trả lãi 12 ngày với tổng số tiền là 180.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được phép thu là 6.667 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 173.333 đồng;
- - Đối với Trần Thị Mỹ N, tiền vốn vay là 6.000.000 đồng, trả lãi 206 ngày với tổng số tiền là 3.780.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được phép thu là 140.000 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 3.640.000 đồng;
- - Đối với Trần Thị Phương T1, tiền vốn vay là 10.000.000 đồng, trả lãi 165 ngày với tổng số tiền là 9.200.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được phép thu là 3.155.556 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 6.044.444 đồng;
- - Nguyễn Phạm Kim T4, tiền vốn vay là 5.000.000 đồng, trả lãi 232 ngày với tổng số tiền là 9.075.000 đồng. Số tiền theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được phép thu là 336.111 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 8.738.889 đồng;
- - Trần Thị Kim N1, tiền vốn vay là 10.000.000 đồng, trả lãi 277 ngày với tổng số tiền lãi là 16.865.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được phép thu là 616.111 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 16.248.889 đồng;
- - Nguyễn Huỳnh Phương T5, tiền vốn vay là 10.000.000 đồng, trả lãi 147 ngày với tổng số tiền là 19.725.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được phép thu là 730.556 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 24.295.556 đồng;
- - Ngô Uyên P1, tiền vốn vay là 10.000.000 đồng, trả lãi 251 ngày với tổng số tiền là 26.685.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được phép thu là 988.333 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 25.696.667 đồng;
- - Phan Thị Trúc X, tiền vốn vay là 5.500.000 đồng, trả lãi 221 ngày với tổng số tiền là 13.260.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được phép thu là 675.278 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 12.584.772 đồng;
- - Lương Ngọc H, tiền vốn vay là 6.000.000 đồng, trả lãi 131 ngày với tổng số tiền là 6.285.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được phép thu là 232.778 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 6.052.222 đồng;
- - Lê Thị Kim T6, tiền vốn vay là 12.000.000 đồng, trả lãi 544 ngày với tổng số tiền là 41.370.000 đồng. Số tiền lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự được phép thu là 2.045.833 đồng. Như vậy, T thu lợi bất chính là 39.324.167 đồng;
[2.2] Như vậy, bị cáo T đã xác lập các giao dịch cho vay tiền để lấy lãi với mức lãi suất vượt quá quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự từ 30 lần đến 48 lần. Hành vi này của bị cáo đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang đã truy tố bị cáo T về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét về nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì nhận thấy:
[3.1] Xét thấy, hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo T nhận thức được hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện để trục lợi quá mức thông qua giao dịch dân sự và còn đưa ra những đề nghị quan hệ tình dục khi người vay muốn vay thêm tiền. Hành vi này của bị cáo thể hiện thái độ xem thường pháp luật, suy đồi về đạo đức. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Về biện pháp tư pháp:
Đối với khoản tiền vốn vay gốc là 85.500.000 đồng, đây phương tiện phạm tội, nên bị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Buộc bị cáo T có trách nhiệm nộp 85.500.000 đồng.
Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm, tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự, nhưng đây cũng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, để bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nên cần phải tịch thu sung công quỹ nhà nước khoản tiền này. Do đó, bị cáo T có trách nhiệm nộp 10.285.001 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với khoản tiền lãi đã nhận vượt quá quy định là 176.031.111 đồng, đây là thu nhập bất chính nên buộc bị cáo T nộp để sung vào ngân sách Nhà nước.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo T không có nghề nghiệp, không có tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Đối với việc bị cáo T nhiều lần quan hệ tình dục với người vay tiền: Theo lời khai của T cũng như là lời khai của Trần Thị Phương T1, Nguyễn Thị Thùy D, Trần Thị Mỹ N, Nguyễn Phạm Kim T4, Nguyễn Huỳnh Phương T5 và Lê Thị Kim T6, việc T và những người này có quan hệ tình dục là tự nguyện thỏa thuận, không bị ép buộc, cưỡng bức. Đồng thời, sau khi quan hệ tình dục xong, T giao thêm tiền vốn cho ngời vay và người vay có nghĩa vụ trả lãi cho số tiền bổ sung này. Từ đó, không đủ căn cứ quy kết bị cáo T về hành vi cưỡng dâm, mua dâm đối với những người đã tự nguyện cho bị cáo quan hệ tình dục.
[7] Đối với các giấy vay tiền được đánh số Bút lục số 487, 486, 481, 482, 483, 484: Trong giai đoạn điều tra không tìm được những người vay tiền theo các giấy vay này. Do đó, kiến nghị tiếp tục điều tra làm rõ, trường hợp có dấu hiệu của “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” thì xử lý sau theo quy định pháp luật.
[8] Xử lý vật chứng: Xét thấy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu đen là công cụ phạm tội nên cần phải tịch thu sung vào ngân sách quỹ Nhà nước.
[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Lê Trần Trung T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Căn cứ vào: khoản 2, Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Trần Trung T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày 12 tháng 08 năm 2025.
[2] Về biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo T có trách nhiệm nộp 271.816.112 (hai trăm bảy mươi mốt triệu, tám trăm mười sáu nghìn một trăm mười hai) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro có số IMEI 1: 352228709704598 và số IMEI 2: 352228708924155; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, trong điện thoại có gắn 01 thẻ sim.
(Vật chứng theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – An Giang)
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Xuân Khanh |
9
Bản án số 79/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về hình sự: cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 79/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bc cho vay nhiều người với lại suất cao
