Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG

Bản án số: 79/2025/HS-ST

Ngày: 26-9-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đoàn Văn Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Văn Bông;

Ông Phạm Xuân Trường.

- Thư ký phiên tòa: bà Dương Thị Vân - Thư ký viên của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: bà My La- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại E T, xã D, tỉnh Lâm Đồng (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh cũ), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Phạm Đăng K, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2005 tại Bến Tre (tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần đầu bị cáo 17 tuổi 07 tháng 29 ngày; thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần cuối bị cáo 17 năm 09 tháng 18 ngày); nơi cư trú: 3 N, thôn A, xã D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: phụ xe; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm: 1978 và bà Phạm Thị Thu V, sinh năm: 1980; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Công an tỉnh L; trụ sở: số E T, phường C - Đ (Phường E cũ), tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo pháp luật: ông Trương Minh Đ, chức vụ: Giám đốc Công an tỉnh.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn T, chúc vụ: Trưởng phòng Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh L.

Văn bản ủy quyền số 18/GUQ ngày 17/6/2025, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bà Mai Thị C, sinh năm: 1979; địa chỉ: thôn T, xã D (thon I, xã T cũ), tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Đoàn Trung K1, sinh năm: 1974; địa chỉ: A M, thôn D, xã D, tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1979; địa chỉ: thôn I, xã D, tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Bà Châu Thị Thu H, sinh năm: 1991; địa chỉ: số nhà A N, thôn A, xã D, tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1978; địa chỉ: số nhà C đường N, thôn A, xã D, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
  5. Ông Trần Văn S, sinh năm: 1974; địa chỉ: số D Quốc lộ B, tổ G, thôn L, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
  6. Ông Lê Tấn M, sinh năm: 1970; địa chỉ: thôn C, xã B (xã L cũ), tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  7. Anh Phạm Văn Quý T1, sinh năm: 2004; địa chỉ: số A, thôn T, xã B (xã Đ), tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
  8. Anh Lê Nguyễn Nhật H1, sinh năm: 2000; địa chỉ: số E đường M, phường C - Đ (Phường E cũ), tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định và muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2023, Nguyễn Phạm Đăng K đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là các bình ắc quy của xe mô tô, xe ô tô và một số tài sản khác tại tiệm mua bán phế liệu của bà Mai Thị C và trong kho tạm giữ phương tiện của Công an huyện D (cũ) để mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do tài sản trộm cắp cồng kềnh và tránh bị phát hiện nên K không lấy liền một đợt mà chia ra làm nhiều lần thực hiện trộm cắp khác nhau, cụ thể:

Các lần trộm cắp tài sản tại tiệm phế liệu của bà Mai Thị C:

Ngày 16/8/2023, K nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, K điều khiển xe mô tô biển số 49G1- 627.27 của ông Nguyễn Văn P đến tiệm phế liệu của bà Mai Thị C, quan sát không thấy ai bên trong K dừng xe tại bên hông tiệm phế liệu, sau đó trèo qua hàng rào để vào bên trong tiệm, K lần lượt bê 04 bình ắc quy ra ngoài rồi đi đến trước cổng phế liệu và kéo các bình ắc quy ra ngoài, K để 04 bình ắc quy lên xe (02 bình để phía trước, 02 bình để phía sau). K chở đến tiệm phế liệu của bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1979; địa chỉ: thôn I, xã D, Lâm Đồng khi bán K nói “Bán cái bình”, bà N không hỏi gì, tổng số tiền bán được là 350.000 đồng.

Ngày 18/8/2023, K tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 49G1- 627.27 đến tiệm phế liệu của bà Mai Thị C để trộm cắp tài sản là 04 bình ắc quy xe ô tô. Sau đó K chở đến tiệm phế liệu của bà Nguyễn Thị N bán được 300.000 đồng.

Ngày 19/8/2023, K điều khiển xe mô tô biển số 49G1- 627.27 đến tiệm phế liệu của bà C tiếp tục trộm cắp 04 bình ắc quy xe ô tô, sau đó chở đến tiệm phế liệu của bà N bán được 300.000 đồng.

Ngày 21/8/2023, K điều khiển xe mô tô biển số 49G1- 627.27 đi đến tiệm phế liệu của bà C trèo vào bên trong lấy trộm 03 bình ắc quy xe ô tô, 01 bao đựng bình ắc quy xe máy và 01 bình chữa cháy đem để ở phía cổng trước. K trèo ra ngoài và kéo các bình ắc quy, bao đựng bình ắc quy xe mô tô, 01 bình chữa cháy, 01 bó sắt kéo ra ngoài rồi để lên xe mô tô chở đến tiệm phế liệu của bà N để bán, K không còn nhớ số kg và số tiền bao nhiêu, sau khi nhận được tiền thì K đi về.

Ngày 22/8/2023, K tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 49G1- 627.27 đi đến tiệm phế liệu của bà Mai Thị C và lấy trộm 05 bình ắc quy xe ô tô, với 01 cục lõi (lõi dây bằng đồng) của máy hàn điện đã hư, sau đó chở đến tiệm phế liệu của bà N để bán, lúc này bà N hỏi “B đâu ra nhiều vậy”, K nói “Nhà có mấy bình hư”, rồi bà N không nói gì nữa, K nhận tiền xong thì K đi về. Hiện nay K không còn nhớ số kg và số tiền bán được bao nhiêu.

Ngày 24/8/2023, K điều khiển xe mô tô biển số 49G1- 627.27 đến tiệm phế liệu của bà Mai Thị C lần này K lấy trộm 01 bình ắc quy xe ô tô để ở phía trước cổng, rồi trèo ra ngoài và để lên xe chở đến tiệm phế liệu của bà N bán được với giá là 250.000 đồng, sau đó K đi về.

Các lần trộm cắp tài sản tại kho tạm giữ phương tiện của Công an tỉnh L (Công an huyện D cũ), cụ thể:

Sáng ngày 25/9/2023, K điều khiển xe mô tô biển số 49G1- 627.27 đi ngang qua kho tạm giữ phương tiện Công an tỉnh L (Công an huyện D cũ), do thấy không có ai trông coi ở kho xe nên K đã nảy sinh ý định vào bên trong kho xe để trộm cắp tài sản. K thấy 01 xe ô tô tải biển số 49H- 011.49 đang để bên ngoài phía trước cổng, K dừng xe mô tô cạnh xe ô tô tải và lấy khóa 13 trong cốp xe mô tô tiến hành mở khóa của 02 bình ắc quy và bê lên để lên phía trước xe mô tô. K chở đến tiệm phế liệu của bà N, bán được với giá 280.000 đồng rồi về nhà. Chiều cùng ngày, K tiếp tục điều khiển xe đi đến địa điểm trên và dừng xe bên hông của kho tạm giữ phương tiện, K trèo vào kho và đem theo khóa 13, mở lấy 01 bình ắc quy của xe ô tô tải (không xác định được biển số xe) và bê lên để trên hàng rào rồi đẩy xuống đường. K trèo ra ngoài và chở bình ắc quy đến tiệm phế liệu gần ngã ba cây sơn để bán cho cơ sở thu mua phê liệu của bà Châu Thị Thu H, sinh năm: 1991; địa chỉ: số A, đường N, xã D, tỉnh Lâm Đồng để bán, nhận được tiền thì K đi về nhà. Quá trình điều tra, K và bà Châu Thị Thu H đều không nhớ được số tiền bán được, đặc điểm, cân nặng của bình ắc quy nên không có cơ sở để trưng cầu định giá tài sản.

Ngày 6/10/2023, K tiếp tục vào kho tạm giữ phương tiện Công an huyện D (cũ) trộm cắp 2 bình ắc quy xe ô tô và 9 bình ắc quy xe mô tô, sau đó đem bán đến tiệm phế liệu của bà Nguyễn Thị N, thấy K đem nhiều bình ắc quy đến nên bà N hỏi “Bình ắc quy này ở đâu” thì K nói “Do nhà làm gara nên có”, nghe vậy bà N không hỏi gì nữa và mua với giá 800.000 đồng, K nhận tiền sau đó đi về.

Tại bản kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 1013/KL-HĐĐG ngày 14/12/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D và số 848/HĐĐG ngày 16/12/2024 bổ sung kết luận định giá số 1013 KL-HĐĐG ngày 14/12/2023 kết luận:

  • + Tài sản trộm vào ngày 16/8/2023: 04 bình ắc quy xe ô tô các loại có tổng trọng lượng 35kg, có giá trị là 630.000 đồng.
  • + Tài sản trộm vào ngày 18/8/2023: 04 bình ắc quy xe ô tô các loại có tổng trọng lượng 30kg, có giá trị là 540.000 đồng.
  • + Tài sản trộm vào ngày 19/8/2023: 04 bình ắc quy xe ô tô các loại có tổng trọng lượng 30kg, có giá trị là 540.000 đồng.
  • + Tài sản trộm vào ngày 21/8/2023: 03 bình ắc quy xe ô tô các loại có tổng trọng lượng 35kg, có giá trị là 630.000 đồng; 01 bao đựng bình ắc quy xe mô tô các loại có tổng trọng lượng khoảng 40kg, có giá trị là 773.320 đồng; 01 bó sắt phi 12 có trọng lượng khoảng 20kg có giá trị là 133.320 đồng; 01 bình chữa cháy có giá trị là 323.333 đồng. Tổng giá trị là: 1.859.973 đồng.
  • + Tài sản trộm vào ngày 22/8/2023: 05 bình ắc quy xe ô tô các loại có tổng trọng lượng 35kg, có giá trị là 630.000 đồng; 01 cục lõi (lõi dây bằng đồng) của máy hàn điện đã hư không có giá trị sử dụng nên có giá trị là 0 đồng.
  • + Tài sản trộm vào ngày 24/8/2023: 01 bình ắc quy xe ô tô nặng 15 kg có giá 270.000 đồng

- Tại bản kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 789/KL-HĐĐG ngày 19/11/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D xác định tài sản trộm vào ngày 25/9/2023 tại nhà kho tạm giữ phương tiện Công an huyện D giá trị 02 bình ắc quy xe ô tô (tài sản trộm cắp vào ngày 25/9/2023), nhãn hiệu Đồng Nai 90AH dành cho xe ô tô tải, đã qua sử dụng có giá là 2.766.666 đồng.

- Tại bản kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 14/KL-HĐĐG ngày 08/4/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D xác định tài sản trộm vào ngày 06/10/2023 xác định: 01 bình ắc quy lớn của xe ô tô có kích thước 40cm x 17cm x 21cm hiệu enimac 12V-100AH-N100 nặng 23,5kg có giá 485.647 đồng; 01 bình ắc quy lớn của xe ô tô có kích thước 23cm x 17cm x 21cm có in chữ “thai energy Storage Technology-PLC-Made in China-20H R” nắp màu đen, vỏ xum quanh màu trắng nặng 11,5kg có giá 237.670 đồng; 05 Bình ắc quy thường dùng cho xe gắn máy có màu đen, nặng tổng cộng 8kg cùng có kích thước 11cm x 7cm x 8,5cm, đều có vỏ màu đen, đặc điểm lần lượt là: 02 bình nhãn hiệu Dongnai PTZ5L-12V-4AH (10HR); 02 bình có cùng nhãn hiệu GS-GTZ5S-12V-3,5AH, 01 bình màu đen nhãn hiệu Dongnai (10HR) 12V-3AH (10 HR) trị giá 165.336 đồng; 04 Bình ắc quy thường dùng cho xe gắn máy có màu đen, cùng có kích thước 11cm x 07cm x 8,5cm, nặng tổng cộng 8,2kg; trong đó có 01 bình màu đỏ nhãn hiệu CRV 12N5-BS-12V-6,0AH; 01 bình nhãn hiệu Dongnai PTZ6L-12V-6AH (10HR), 01 cái màu đen nhãn hiệu SCR-SP6S-3B-12V-6AH, 01 bình màu đen nhãn hiệu GS-GT5A-VRLA-12V-5AH (10HR) trị giá 169.469,4 đồng. Tổng giá trị tài sản: 1.058.150,4 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô biển số 49G1- 627.27 (Quá trình điều tra xác định là xe mô tô thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn P là bố của K, do K đã tự ý lấy xe mô tô đi trộm cắp tài sản hiện nay đã trả cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn P); 01 bình ắc quy có kích thước 40cm x 17cm x 21cm; 01 bình ắc quy có kích thước 23cm x 17cm x 20cm; 05 bình ắc quy có kích thước 11cm x 7cm x 8,5cm; 04 bình ắc quy có kích thước 12cm x 6cm x 13cm. Các bình ắc quy trên hiện đã trả cho Công an tỉnh L; 01 tua vít dài 23.5cm cán được làm bằng nhựa dài 10cm, phần kim loại của tua vít có màu trắng một đầu nhọn, một đầu tòe dài 17,4com, trên thân có dòng chữ CHROME-VANADIUM; 01 ống điếu 10mm màu nâu được làm bằng kim loại có chiều dài 4,2cm; 01 ống điếu 13mm màu nâu được làm bằng kim loại có chiều dài 16cm.

Về trách nhiệm dân sự: ông Đoàn Trung K1 là người bảo vệ kho tạm giữ phương tiện đã nhận lại tài sản và được bồi thường số tiền 3.000.000 đồng nên không có yêu cầu gì thêm; bà Mai Thị C được bồi thường số tiền 5.800.000 đồng, bà Nguyễn Thị N được bồi thường số tiền 900.000 đồng nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với bên bị hại là Công an tỉnh L đã làm việc và tự thoả thuận với ông Đoàn Trung K1 (Bảo vệ kho phương tiện). Do vậy, Công an tỉnh L đồng ý với trình bày của ông Đoàn Trung K1, không có ý kiến gì, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Nguyễn Phạm Đăng K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 28/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Phạm Đăng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, không có nội dung gì thay đổi. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông P, ông T1 thống nhất và không thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng, các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông P trình bày khi bị cáo lấy xe mô tô biển số 49G1- 627.27 của ông đi trộm cắp tài sản thì ông không biết. ông đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh T1 trình bày trình bày bị mất bình ắc quy loại Đồng Nai dành cho xe mô tô. Anh đã được đền bù, không còn bị thiệt hại gì nữa nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng trình bày luận tội, tranh luận đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Phạm Đăng K về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 28/8/2025, rút tình tiết phạm tội hai lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Qua phân tích đánh giá tính chất mức độ về hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50; 90, 91 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Đăng K từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản, đã được bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề cập.

Về xử lý vật chứng: 01 tua vít dài 23.5cm cán được làm bằng nhựa dài 10cm, phần kim loại của tua vít có màu trắng một đầu nhọn, một đầu tòe dài 17,4cm, trên thân có dòng chữ CHROME-VANADIUM; 01 ống điếu 10mm màu nâu được làm bằng kim loại có chiều dài 4,2cm; 01 ống điếu 13mm màu nâu được làm bằng kim loại có chiều dài 16cm, xét không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông P, ông T1 không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa, các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án các ông, bà K1, N, H, S, M, H1 vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, xét sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2023 trên địa bàn xã D, Lâm Đồng. Do tài sản trộm cắp cồng kềnh và để tránh bị phát hiện nên K không lấy liền một đợt được mà phải chia ra làm nhiều lần thực hiện trộm cắp khác nhau của bà Mai Thị C và tại kho tạm giữ phương tiện của Công an tỉnh L với tổng giá trị tài sản là 8.294.789 đồng. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả, được bị hại bà C xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngoài ra khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên cần áp dụng thêm các quy định tại chương XII Bộ luật hình sự để xử lý.

[5] Về quyết định hình phạt: xét thấy tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị cáo là người chưa thành niên nhưng bị cáo biết, nhận thức rõ được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì tư lợi cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là các loại bình ắc quy, sắt, bình chữa cháy... tại kho phế liệu của bà C và tại kho xe của Công an tỉnh L với tổng số tiền là 8.294.789 đồng. Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản của công dân, nhà nước được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo thực hiện là liều lĩnh, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự, trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây nghi kỵ lẫn nhau nên cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiệm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: các bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự nên không đề cập.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với 01 xe mô tô biển số 49G1- 627.27 (quá trình điều tra xác định là xe mô tô thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn P là bố của bị cáo K, do bị cáo đã tự ý lấy xe mô tô đi trộm cắp tài sản); 01 bình ắc quy có kích thước 40cm x 17cm x 21cm; 01 bình ắc quy có kích thước 23cm x 17cm x 20cm; 05 bình ắc quy có kích thước 11cm x 7cm x 8,5cm; 04 bình ắc quy có kích thước 12cm x 6cm x 13cm. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định. Ông P, Công an tỉnh L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.

[7.2] Đối với 01 tua vít dài 23.5cm cán được làm bằng nhựa dài 10cm, phần kim loại của tua vít có màu trắng một đầu nhọn, một đầu tòe dài 17,4cm, trên thân có dòng chữ CHROME-VANADIUM; 01 ống điếu 10mm màu nâu được làm bằng kim loại có chiều dài 4,2cm; 01 ống điếu 13mm màu nâu được làm bằng kim loại có chiều dài 16cm, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Đối với hành vi mua bình ắc quy của bà Nguyễn Thị N, khi mua bán K nói bình ắc quy đó là của nhà K làm gara nên có, do không dùng tới nữa nên bán. Bà N không biết tài sản đó do K phạm tội mà có nên không có cơ sở để xử lý bà Nguyễn Thị N về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

[9] Về án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Đăng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50; 90; 91; 101 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Đăng K 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 tua vít dài 23,5cm cán được làm bằng nhựa dài 10cm, phần kim loại của tua vít có màu trắng một đầu nhọn, một đầu tòe dài 17,4cm, trên thân có dòng chữ CHROME-VANADIUM; 01 ống điếu 10mm màu nâu được làm bằng kim loại có chiều dài 4,2cm; 01 ống điếu 13mm màu nâu được làm bằng kim loại có chiều dài 16cm.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/5/2025 giữa Công an tỉnh L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh (nay là Phòng Thi hành án khu vực 4 - Lâm Đồng).

  4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Nguyễn Phạm Đăng K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông P, anh T1 có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại là Công an tỉnh L, bà C; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là các ông bà K1, Nam, H, S, M, H1 vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Công an tỉnh Lâm Đồng
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND khu vực 4 - Lâm Đồng;
  • - THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - BP theo dõi THA phạt tù;
  • - Lưu HS-AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Chiến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Bông – Phạm Xuân Trường

Đoàn Văn Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 79/2025/HS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 79/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phạm Đăng K trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger