Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 778/2025/HS-PT

Ngày 09-12-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm;

Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 614/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Diễm H do có kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2025/HS- ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi thường trú: ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), nơi tạm trú: khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; có chồng và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 21 tháng 10 năm 2024 đến ngày 30 tháng 10 năm 2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo; 01 bị hại do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, B2 rủ H và T1 trộm cắp dây điện chiếu sáng trên địa bàn xã P và phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương để bán. Từ ngày 04/9/2024 đến ngày 20/10/2024, B2, H và T1 đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp dây điện, cụ thể:

Lần thứ 1: Chiều ngày 03/9/2024, B2 và H đi tìm dây điện để lấy trộm. Khi đi đến trước tiệm T2 thuộc ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương phát hiện đầu dây điện ở trên cột điện cạnh vỉa hè của hệ thống đèn chiếu sáng là loại dây điện Tr-CV-3x14 (3x7/1.6) – 0,66/1kV gồm 03 sợi dây riêng biệt màu trắng sọc đỏ, màu vàng, màu xanh, lõi mỗi dây có 07 sợi đồng thuộc quyền quản lý của Phòng Quản lý đô thị thành phố B thì quay về. Khoảng 01 giờ ngày 04/9/2024, B2 điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 92D1-634.12 chở H đến vị trí trên để cắt trộm dây điện. H ngồi trên xe cảnh giới, B2 dùng kềm cắt đầu dây điện còn lại rồi nhặt 01 đoạn ống nước dài khoảng 1,5 mét làm 01 cái móc để kéo đoạn dây điện đã cắt từ trên cao xuống sau đó mang dây điện cất giấu trong đống phế liệu tại sân nhà bà Võ Thanh P là mẹ của B2 thuộc khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Sáng ngày 04/9/2024, B2 mang dây điện lấy trộm được đến vựa phế liệu của bà Nguyễn Thị T tại khu phố B, phường T, thành phố B mượn máy tuốt vỏ dây điện, thu được 13,5 kg lõi đồng. Bình bán lõi đồng cho bà T được 2.600.000 đồng. B2 và H tiêu xài hết.

Lần thứ 2: Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 16/9/2024, B2 chuẩn bị 01 kềm cộng lực, 01 kềm cắt cán màu xanh, 01 kềm cắt cán màu đỏ, 08 bulong, 03 cặp bao tay, 01 túi màu xanh giấu trong cốp xe rồi điều khiển xe mô tô biển số 92D1-634.12 chở H đi đến đoạn đường DT744 trước cửa hàng Đ thuộc ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương. H ngồi trên xe cảnh giới, B2 dùng 08 bulong gắn vào trụ điện để trèo lên cột điện rồi dùng kềm cắt dây điện và tìm 01 cây tre để kéo dây điện xuống cắt thành từng đoạn nhỏ đem về cất giấu trong đống phế liệu trong sân nhà bà P. Sáng ngày 16/9/2024, B2 mang dây điện trộm được đến vựa phế liệu của bà Hoàng Thị B1 tại khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương mượn máy tuốt vỏ dây điện, thu được 10 kg lõi đồng. Bình bán lõi đồng cho bà B1 được 2.000.000 đồng. B2 và H tiêu xài hết.

Lần thứ 3: Khoảng 02 giờ ngày 12/10/2024, B2 sử dụng điện thoại di động hiệu Vivo Y21 gắn sim số 0523.056.916 gọi đến số 0774.920.334 gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31 của Nguyễn Linh T1 rủ T1 đi trộm cắp tài sản. T1 đồng ý và điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 66F1-365.18 theo chỉ dẫn của B2 đến đoạn đường ĐT748 trước tiệm T3 thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. B2 điều khiển xe môtô biển số 92D1-634.12 chở H đến chỗ hẹn T1. H đứng cảnh giới, B2 cắt dây điện, T1 cùng B2 kéo và cuộn dây điện lấy trộm được bỏ vào túi. B2 đem dây điện cất giấu ở đống phế liệu trong sân nhà bà P. Sáng ngày 23/9/2024, B2 mang số dây điện trộm được đến vựa phế liệu của bà Hoàng Thị B1 dùng máy tuốt vỏ dây điện thu được 17 kg lõi đồng và bán cho bà B1 được 3.400.000 đồng. B2 chia cho T1 1.700.000 đồng, còn lại 1.700.000 đồng B2 và H tiêu xài hết.

Lần thứ 4: Khoảng 02 giờ ngày 20/10/2024, B2 sử dụng điện thoại di động hiệu Vivo Y21 gắn sim số 0523.056.916 gọi số 0774.920.334 rủ T1 đi cắt trộm dây điện, T1 đồng ý. Do đã xác định được vị trí dây điện sẽ cắt trộm trên đường H thuộc ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên B2 và T1 hẹn gặp nhau ở khu vực ngã tư P. B2 chuẩn bị 01 kềm cộng lực, 01 kềm cắt cán màu xanh, 01 kềm cắt cán màu đỏ, 08 bulong, 03 cặp bao tay, 01 túi màu xanh cất giấu trong cốp xe. T1 điều khiển xe môtô biển số 66F1-365.18, B2 điều khiển xe môtô biển số 92D1-634.12 chở H đến đến ngã tư P gặp nhau rồi cùng đi đến đoạn đường HL609 phía trước tiệm T4 thuộc ấp P, xã P. H ngồi trên xe cảnh giới, B2 quan sát xung quanh không thấy ai thì leo lên trụ sắt ở gốc cây trên vỉa hè dùng kìm cắt được 17 mét dây điện rồi cùng T1 kéo dây điện từ trên cột điện xuống. B2 cuộn dây điện lại thành vòng tròn nhỏ, cất vào túi xách màu xanh đã chuẩn bị sẵn rồi điều khiển xe 92D1-634.12 chở H đi về cất giấu dây điện ở đống phế liệu trong sân nhà bà P còn T1 điều khiển xe mô tô biển số 66F1-365.18 đi về phòng trọ. Sau khi cất giấu dây điện, B2 và H tiếp tục đi lấy trộm dây điện nhưng không rủ T1 đi cùng. B2 điều khiển xe môtô 92D1-634.12 chở H đi đến cổng Khu công nghiệp M 3 để lấy cây móc bằng kim loại B2 cất giấu trong bụi cỏ ven đường rồi quay lại ấp P, xã P lấy trộm được 5,2 mét dây điện, B2 cuộn lại cất vào túi đưa H giữ và điều khiển xe môtô 92D1-634.12 chở H về phòng trọ. Khi đi đến ngã tư P thuộc xã P, thành phố B, tỉnh Bỉnh Dương, B2 và H bị lực lượng Công an phường P, thành phố B kiểm tra phát hiện.

Theo Kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS ngày 25/10/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:

  • - 30 mét dây điện có lõi bằng đồng, có vỏ bọc nhựa, không thấy nhãn hiệu do đã cũ, tài sản đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 04/9/2024 có giá trị 2.700.000 đồng
  • - 42 mét dây điện có lõi bằng đồng, có vỏ bọc nhựa, không thấy nhãn hiệu do đã cũ, tài sản đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 16/9/2024 có giá trị 3.780.000 đồng.
  • - 139 mét dây điện có lõi bằng đồng, có vỏ bọc nhựa, không thấy nhãn hiệu do đã cũ, tài sản đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 12/10/2024 có giá trị 12.510.000 đồng.
  • - 17 mét dây điện có lõi bằng đồng, có vỏ bọc nhựa, không thấy nhãn hiệu do đã cũ, tài sản đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 20/10/2024 có giá trị 1.530.000 đồng.
  • - 5,2 mét dây điện có lõi bằng đồng, có vỏ bọc nhựa, không thấy nhãn hiệu do đã cũ, tài sản đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 20/10/2024 có giá trị 468.000 đồng

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2025/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diễm H 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án, khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024.

Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn xử phạt Nguyễn Trí B2; Nguyễn Linh T1 mỗi bị cáo 02 (hai) năm tù; tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10 tháng 9 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSKV15 với nội dung đề nghị xét xử phúc thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị Diễm H được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSKV15 với nội dung đề nghị xét xử phúc thẩm cho bị cáo H được hưởng án treo. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 trong thời hạn luật định. Nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Nguyễn Thị Diễm H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật; bị cáo “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại lớn 20.988.000 đồng và chưa bồi thường thiệt hại.

Xét thấy, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Bên cạnh đó việc trộm cắp giây điện làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, đồng thời ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân đang sinh sống tại khu vực xảy ra vụ án, có thể gây ra những hậu quả khó lường về mặt như sức khỏe, tính mạng của người dân cũng như của chính bản thân bị cáo. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật mà vẫn cố ý phạm tội. Khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo mức 01 năm tù là phù hợp. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh không có cơ sở xem xét chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSKV15 ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2025/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo không tham gia tranh luận

Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội ở bên ngoài chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSKV15 ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Từ ngày 04/9/2024 đến ngày 20/10/2024, các bị cáo Nguyễn Trí B2, Nguyễn Thị Diễm H đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp dây điện của hệ thống chiếu sáng trên địa bàn xã P và phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương thuộc quyền quản lý của Phòng quản lý đô thị thành phố B, tỉnh Bình Dương để bán lấy tiền tiêu xài. Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 20.988.000 đồng. Cụ thể: Lần 01 ngày 04/9/2024, B2 và H lấy trộm được 30 mét dây điện có lõi bằng đồng trị giá 2.700.000 đồng; lần 2 ngày 16/9/2025: B2 và H lấy trộm được 42 mét dây điện có lõi bằng đồng trị giá 3.780.000 đồng; lần 03 ngày 12/10/2024: B2 và H lấy trộm được 139 mét dây điện có lõi bằng đồng trị giá 12.510.000 đồng và lần 04 ngày 20/10/2024: B2 và H lấy trộm được 17 mét dây điện có lõi bằng đồng trị giá 1.530.000 đồng; 5,2 mét dây điện có lõi bằng đồng trị giá 468.000 đồng.

[3] Bị cáo Nguyễn Linh T1 cùng với bị cáo Nguyễn Trí B2, Nguyễn Thị Diễm H thực hiện hành vi phạm tội 02 lần, cụ thể: Ngày 12/10/2024 cùng với B2, H lấy trộm 139 mét dây điện có lõi bằng đồng trị giá 12.510.000 đồng; ngày 20/10/2024 cùng với B2, H lấy trộm 17 mét dây điện có lõi bằng đồng trị giá 1.530.000 đồng, tổng trị giá 14.040.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

[5] Xét Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSKV15 ngày 10/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo H cùng các bị cáo khác trong vụ án đã thực hành vi trộm cắp dây điện 04 lần với tổng giá trị tài sản là 20.988.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi tám nghìn) đồng. Mặc dù các lần phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo cùng với các bị cáo khác thực hiện rất nguy hiểm cho xã hội, có thể ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe con người; ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và cuộc sống sinh hoạt bình thường, hàng ngày của người dân; bị cáo và các bị cáo khác chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự; Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá phân hóa vai trò của từng bị cáo; đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và áp dụng đầy đủ các tiết tăng nặng, giảm nhẹ; áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo H ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội là phù hợp; bị cáo H có trách nhiệm cùng các bị cáo khác liên đới bồi thường cho bị hại nhưng bị cáo H không thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không nghiêm. Do đó, Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị cho bị cáo H được hưởng án treo là không phù hợp nên không được chấp nhận.

[6] Về sai xót khi áp dụng điều luật: tại phần 2 của Quyết định kháng nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản án hình sự sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo nhưng áp dụng cả hai Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự là mâu thuẫn trong áp dụng pháp luật; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

[7] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSKV15 ngày 10/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[9] Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSKV15 ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2025/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diễm H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án, khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024.
  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Thị Diễm H không phải chịu.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh (03);
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06 – Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, 16, (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 778/2025/HS-PT ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 778/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Diễm H - tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger