|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2025/HS-ST Ngày 31-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thanh
2. Ông Nguyễn Quang Vinh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huấn- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31/12/2025 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 14/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70A/2025/QĐXXST-HS ngày 27/11/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/HSST-QĐ ngày 16/12/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức H, sinh năm 1991. Tên gọi khác: Không. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức T, sinh năm 1964 và bà: Phạm Thị Q, sinh năm 1968; bị cáo có vợ: Vương Thị T1, sinh năm 1995 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh B (có mặt).
- Bị hại: Anh Đào Văn H1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Văn D, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn M, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Anh Vũ Văn S, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn T, phường B, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).
- Chị Vương Thị T1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Đ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Chị Trương Thị D1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Anh Trần Văn Q1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Đào Văn H1, sinh năm 1995 trú tại thôn Đ, xã T, tỉnh Bắc Ninh quen biết xã hội với Nguyễn Đức H, sinh năm 1991 trú tại thôn Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. Anh H1 mở cửa hàng kinh doanh điện thoại và dịch vụ đổi tiền tại nhà thuê của bà Thân Thị T3, sinh năm 1959 ở tổ dân phố (TDP) Q, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng tháng 10 năm 2024, theo H khai H có cho anh H1 vay số tiền 76.000.000 đồng. Cũng trong khoảng thời gian này, H đến gặp anh H1 mượn tài khoản ngân hàng của anh H1 để khi nào bạn H chuyển tiền vào thì H rút tiền, anh H1 đồng ý và cho H số tài khoản 23013011955 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần T5 (viết tắt là T6). Khoảng đầu tháng 11 năm 2024, Lê Văn H2, sinh năm 1995 trú tại T, xã T, tỉnh Thanh Hóa (H và H2 quen nhau trước đó khi làm việc tại Trung Quốc) bảo H đã chuyển số tiền 76.000.000 đồng vào số tài khoản 23013011955 cho H1 vay để trả nợ cho H, rồi H2 gửi hình ảnh mã rút số tiền 76.505.911 đồng từ tài khoản ****3011955 cho H. Sau đó H gửi hình ảnh trên cho anh H1 rồi gọi điện, nhắn tin chửi bới, đe doạ đòi tiền Hợi nhiều lần. H1 bảo H không nhận được tiền của ai gửi cho H. Khoảng 13 giờ ngày 17/11/2024, H cùng Vũ Văn S, sinh năm 1992, trú tại TDP T, phường B, thành phố Hải Phòng (H và S có mối quan hệ xã hội, S hiện đang làm công nhân tại V) đến cửa hàng của anh H1 để đòi tiền. Tại đây H chửi bới, đe doạ và yêu cầu anh H1 trả tiền nhưng anh H1 khẳng định không nợ tiền H. H biết anh H1 có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu đen, biển số 98C1-103.10 đang cầm cố ở cửa hàng sửa chữa xe mô tô có địa chỉ tại TDP C, xã L, tỉnh Bắc Ninh của anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998 trú tại thôn M, xã L, tỉnh Bắc Ninh nên H bắt anh H1 đi cùng về quán của T2, mục đích để ép H1 bán xe mô tô trên cho H. Đến quán của T2, H nói chuyện với T2 rồi bảo cho H1 vay 16.000.000 đồng để anh H1 chuộc xe rồi bán cho H nhưng H1 không đồng ý, sau đó H1, H, S đi về.
Chiều ngày 19/11/2024, H gọi điện bảo S đón H2 đến quán của H1. Lúc này H từ xã L, tỉnh Bắc Ninh đi taxi biển số 98A-384.05 của anh Phạm Văn D, sinh năm 1986 trú tại thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh đến quán của H1. Khi H đến thì thấy S, H2 đang ngồi đợi ngoài cửa quán của H1. H đi tìm thì thấy anh H1 đang ở trong nhà bà chủ (nhà cho H1 thuê cửa hàng), H kéo H1 về quán và yêu cầu mở cửa nhưng cửa khoá mật khẩu, H1 bảo không nhớ mật khẩu nên H chửi H1. Sau đó H bảo H1 lên xe ô tô ra quán nước nói chuyện. Hợi không đồng ý lên xe ô tô nên anh H1 đi vào nhà chủ mượn xe mô tô, H ngồi lên xe mô tô rồi cùng H1 đến phòng trà Tú T4 cách đó khoảng 01km, còn S, H2 tự đi xe mô tô đi cùng. Đến phòng trà, H, H2, S, H1 ngồi cùng 01 bàn, H chửi anh H1 “địt mẹ mày, mày nợ tiền tao, mày trốn tránh tao, mày không trả tiền thì không xong với tao”. H2 chửi anh H1 “địt mẹ con lợn này, tiền của bố mày không dễ nuốt đâu, bố đã mất công về đây rồi”. Tiếp đó H2, H vừa chửi vừa dùng tay đánh vào mặt, đầu anh H1 để đòi tiền. Anh H1 không dám phản kháng, ôm đầu khóc thì H chửi tiếp “địt mẹ mày, tao đối xử với mày như thế mà mày đi lừa tao”, H2 thò tay vào cạp quần rồi chửi anh H1 “địt mẹ mày không trả tiền bố bắn nổ đầu mày”. Sau đó H yêu cầu H1 lên xe ô tô đến quán của anh T2 để bán xe mô tô cho H. Anh H1 không lên rồi bảo về trả xe mô tô cho nhà bà chủ, H bảo để H về trả hộ. H điều khiển xe mô tô về trả cho bà chủ nhà, còn H1 đứng đợi ở phòng trà cùng S, H2. Sợ H1 bỏ trốn nên H2 chửi, đe dọa “mày mà bỏ đi tao bắn chết”. Khi H quay lại thì S có việc ở nên tự đi xe mô tô về trước, còn H, H2, H1 lên xe ô tô taxi của anh D đến cửa hàng của anh T2. Tại đây H tiếp tục chửi, dọa đánh để đòi tiền H1. H2 chửi, dọa đưa H1 về Hải Phòng để đòi tiền H1. Hợi ngồi trong quán của T2 không dám nói, phản kháng gì. H bắt H1 viết giấy bán xe SH 98C1-103.10 thì anh H1 nói “xe của em T2 nó thanh lý rồi....”, H quay ra hỏi anh T2 xe SH 98C1-103.10 đâu thì anh T2 nói “xe em thanh lý cho người quen rồi...”. H chửi bảo H1 “bây giờ không cần xe, mày cứ viết giấy bán xe là được”, H1 không viết thì H chửi, đe dọa anh H1 nhiều lần “mày có viết không”. Sau đó H và H2 tiếp tục chửi, đe doạ H1, do sợ hãi bị đánh nên H1 đồng ý viết giấy bán xe cho H theo yêu cầu của H. H lấy giấy bút ở quán của anh T2 rồi đọc cho H1 viết nội dung là H1 bán xe SH 98C1-103.10 cho H với giá 40.000.000 đồng. Khi H1 viết giấy bán xe xong thì H gọi anh D ngồi ở ngoài xe vào ký vào mục người chứng kiến. Sau đó H cầm giấy bán xe cất đi, đồng thời H cầm chiếc điện thoại Iphone 13 Pro, màu xanh dương bị vỡ nứt một phần của anh H1 đang để ở mặt ghế rồi ra xe cùng H1 đi về cửa hàng. Trên xe H tiếp tục chửi bới Hợi bắt Hợi đọc mật khẩu để mở điện thoại Iphone 13 Pro trên. H2 chửi “địt mẹ mày, hôm nay mày không có sự lựa chọn, một là mày đọc, hai là bố giết mày”. Do bị H2, H chửi, đe dọa, ép buộc nên H1 đã đọc mật khẩu cho H. Khi về gần đến cửa hàng của H1, H tháo sim trong điện thoại rồi đưa sim và 01 chiếc điện thoại OPPO bị vỡ màn hình cho anh H1. Anh H1 đòi điện thoại Iphone 13 Pro nhưng H không trả, anh H1 cầm sim, điện thoại OPPO của H rồi xuống xe. Sau đó anh H1 để chiếc điện thoại OPPO ở vỉa hè rồi vào nhà bà T3 và gọi người nhà đón về. Sau đó H đưa chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt của anh H1 cho D rồi bảo D đi về trước. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì H gặp D lấy lại điện thoại trên. Đến khoảng 15 giờ ngày 20/11/2024, do sợ bị H đến lấy xe nên anh H1 đến chuyển khoản trả anh T2 số tiền 16.000.000 đồng để chuộc, lấy lại xe. Do anh T2 không để xe ở quán nên anh T2 hẹn 18 giờ quay lại lấy xe. Đến khoảng 18 giờ anh H1 và chị Trương Thị D1, sinh năm 1995 (là vợ anh H1) đến quán T2 lấy xe SH125i biển số 98C1-103.10 thì bị H giữ lại, H nói “xe này là của tao, chồng mày nó đã bán cho tao, tao có giấy bán xe của nó”. Do chị D1 đã được anh H1 nói cho biết trước sự việc nên chị D1 không đồng ý giao xe cho H. Sau đó chị D1 gọi người nhà xuống rồi báo cho Công an thị trấn Đ, huyện L đến lập biên bản và đưa chiếc xe Honda SH125i, màu đen, biển số 98C1-103.10 về trụ sở. Sáng ngày 21/11/2024, H mang chiếc điện thoại chiếm đoạt của anh H1 đến quán của anh Trần Văn Q1, sinh năm 1987 ở TDP T, thị trấn Đ, huyện L cắm với giá 3.000.000 đồng. Cùng ngày anh H1 có đơn trình báo đề nghị giải quyết.
Ngày 22/11/2024, anh Trần Văn Q1 giao nộp: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu xanh dương, mặt nắp lưng bị vỡ một phần, góc bên trái của màn hình có 01 vết chấm nhỏ hiện đa màu. Chị Vương Thị T1, sinh năm 1995 (là vợ của H) giao nộp số tiền 3.000.000 đồng để trả cho anh Q1. Nguyễn Đức H giao nộp: 01 giấy cam kết bán xe đề ngày 19/11/2024, 01 ví da màu đen bên trong có số tiền 240.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 75, 76/KL-HĐĐG cùng ngày 28/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13pro, màu xanh dương, dung lượng 128GB, số máy MLVD3KH/A, số seri Y6R4X96M, mặt lưng máy bị vỡ nứt một phần, góc bên trái của màn hình có 01 vết chấm nhỏ hiện đa màu, có giá trị 8.500.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu sơn đen, số máy: JF73E0001960, số khung: RLHJF7301GY001905, biển số 98C1-103.10 có giá trị 48.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết tại giấy cam kết bán xe đề ngày 19/11/2024. Tại bản kết luận số 2891/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Công an tỉnh B) kết luận: Chữ ký (dạng chữ viết) trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A – trừ chữ ký, chữ viết có nội dung “D – Phạm Văn D” dưới mục người làm chứng) so với chữ ký, chữ viết của Đào Văn H1 trên các tài liệu mẫu (Ký hiệu M1, M2) là do cùng một người ký, viết ra.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho anh Đào Văn H1 chỉ, xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc, tiến hành cho Đào Văn H1, Phạm Văn D, Nguyễn Văn T2, Vũ Văn S, Nguyễn Đức H nhận dạng ảnh những người tham gia trong vụ việc ngày 19/11/2024. Kết quả H1 chỉ đúng vị trí và nhận dạng được H, S, H2; D nhận dạng được H, H1, S và H2; T2, S nhận dạng được H, H1 và H2; H nhận dạng được H1, S và H2 là người liên quan đến vụ việc nêu trên.
Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại Iphone Xs max màu vàng lắp sim số 0827.840.840 và sim 0789.223.803 của H. Kết quả tại mục cuộc gọi đi, đến có nhiều cuộc gọi đến số điện thoại của anh H1; tại mục zalo có nhiều tin nhắn cho gửi cho H1 với nội dung chửi, đe doạ, đòi nợ tiền.
Đối với anh Trần Văn Q1 là người nhận cầm cố chiếc điện thoại Iphone 13 Pro ngày 21/11/2024; anh Phạm Văn D là người lái taxi chở H, Hợi ngày 19/11/2024. Quá trình điều tra xác định Q1 không được bàn bạc gì với H, không biết là tài sản do H phạm tội mà có; anh D là lái xe taxi được H thuê chở, không biết nội dung vụ việc và không tham gia vào vụ việc chửi bới, đe dọa đánh cùng H và H2 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Q1 và anh D.
Đối với Nguyễn Văn T2, quá trình điều tra xác định anh T2 không biết, không tham gia bàn bạc, không chửi bới, đe dọa đánh anh H1 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Tuy nhiên T2 nhận cầm cố xe mô tô Honda SH125i, màu sơn đen, biển số 98C1-103.10 vượt quá mức lãi suất quy định nhưng chưa đủ căn cứ xử lý hình sự nên ngày 18/6/2025, Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với hành vi của Vũ Văn S đi cùng Nguyễn Đức H, Lê Văn H2 vào các ngày 17/11/2024 và 19/11/2024. Quá trình điều tra xác định S không tham gia vào việc đòi nợ, không có hành vi chửi bới, đe dọa hay đánh anh H1. Do đó, hành vi của S không đồng phạm với Nguyễn Đức H nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với S.
Đối với Lê Văn H2 là người đi cùng Nguyễn Đức H có hành vi đe doạ, chửi bới anh H1 ngày 19/11/2024. Do H2 hiện vắng mặt tại địa phương, vụ án hết thời hạn điều tra Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B kết luận điều tra đề nghị truy tố đối với Nguyễn Đức H, đồng thời ngày 19/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đối với Lê Văn H2 để giải quyết bằng một vụ việc khác. Ngày 19/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối Lê Văn H2 về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự để điều tra theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Đức H, Lê Văn H2 có hành vi chửi bới, dùng tay đánh anh H1, tuy nhiên anh H1 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu, đề nghị xử lý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về trách nhiệm dân sự và về vật chứng: Quá trình điều tra bị can đã tác động gia đình trả lại cho anh Trần Văn Q1 số tiền 3.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe mô tô Honda SH125i, màu đen, biển số 98C1-103.10, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro cho anh H1, anh H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, 01 chiếc ví da nam màu đen và số tiền 240.000 đồng của Nguyễn Đức H, Cơ quan điều tra chuyển xử lý cùng vụ án.
Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 13 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm đ, khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Qua thẩm vấn tại phiên toà, kiểm sát viên phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
Về hình phạt: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 và khoản 6 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 22/11/2024, tiếp tục tạm giam để đảm bảo thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
- Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H một lần nữa đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/11/2024, tại phòng trà T có địa chỉ ở TDP Q, phường T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Đức H cho rằng anh Đào Văn H1 nợ tiền không trả nên đã có hành vi chửi bới, dùng tay đánh vào mặt, đầu anh H1 để ép trả tiền. Tiếp đó H chửi, đe doạ rồi đưa anh H1 về quán sửa chữa xe mô tô của Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998 có địa chỉ ở TDP C, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây H tiếp tục chửi bới, đe doạ ép buộc bắt anh H1 phải viết giấy bán xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu đen, biển số 98C1-103.10 có giá trị 48.000.000 đồng cho H; ngay sau đó H đã chiếm đoạt 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu xanh dương có giá trị 8.500.000 đồng của anh H1. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Đức H chiếm đoạt là 56.500.000 đồng.
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tiền án, tiền sự, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tiền án, tiền sự: Không có.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; ông bà ngoại bị cáo được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy, mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung: Cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về tiếp tục tạm giam bị cáo: Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày theo quy định tại Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với 01 xe mô tô Honda SH125i, màu đen, biển số 98C1-103.10; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H1 là phù hợp.
Đối với 01 điện thoại Iphone Xs max màu vàng, bị cáo H đã dùng chiếc điện thoại này để nhắn tin chửi, đe dọa, đòi tiền anh H1, liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 chiếc ví da nam màu đen và số tiền 240.000 đồng là tài sản của bị cáo H nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình trả lại cho anh Trần Văn Q1 số tiền 3.000.000 đồng; anh Đào Văn H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Các vấn đề khác:
Đối với anh Trần Văn Q1 là người nhận cầm cố chiếc điện thoại Iphone 13 Pro ngày 21/11/2024; anh Phạm Văn D là người lái taxi chở H, Hợi ngày 19/11/2024. Quá trình điều tra xác định Q1 không được bàn bạc gì với H, không biết là tài sản do phạm tội mà có; D không được bàn bạc, không tham gia vào việc chửi bới, đe dọa đánh và cưỡng đoạt tài sản cùng H nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Q1, D là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn T2, quá trình điều tra xác định T2 không biết, không tham gia bàn bạc, không chửi bới, đe doạ đánh cưỡng đoạt tài sản của anh H1 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Tuy nhiên T2 nhận cầm cố xe mô tô Honda SH125i, màu sơn đen, biển số 98C1-103.10 vượt quá mức lãi xuất quy định nhưng chưa đủ căn cứ xử lý hình sự nên ngày 18/6/2025, Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Đối với hành vi của Vũ Văn S đi cùng Nguyễn Đức H, Lê Văn H2 vào các ngày 17/11/2024 và 19/11/2024. Quá trình điều tra xác định S không tham gia vào việc đòi nợ, không có hành vi chửi bới, đe dọa hay đánh H1. Do đó, hành vi của S không đồng phạm với Nguyễn Đức H nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với S là phù hợp.
Đối với Lê Văn H2 là người đi cùng Nguyễn Đức H ngày 19/11/2024. Quá trình điều tra xác định H2 hiện không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm đối với H2 nhưng chưa có kết quả. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đối với Lê Văn H2 để giải quyết bằng một vụ việc khác. Ngày 19/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối Lê Văn H2 về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự để điều tra theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Đối với Nguyễn Đức H, Lê Văn H2 có hành vi chửi bới, dùng tay đánh anh H1, tuy nhiên anh H1 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu, đề nghị xử lý nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án là đảm bảo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Đức H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Đức H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, đã qua sử dụng, số imei 1: 356165095365228.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Đức H: 01 chiếc ví da nam màu đen và số tiền 240.000 đồng (hai trăm bốn mươi nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 và khoản 6 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 22/11/2024, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2025 giữa Công an tỉnh B và Phòng thi hành án dân sự khu vực 4- Bắc Ninh).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Dung |
Bản án số 77/2025/HS-ST ngày 31/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH về cướp tài sản
- Số bản án: 77/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Đức Hưng phạm tội "Cướp tài sản"
