Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Bản án số: 767/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17/12/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thu Trang - Thẩm phán.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng
  2. Ông Nguyễn Văn Vĩ

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 273/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975, CCCD số: [...], do Cục Q về trật tự xã hội cấp ngày 10/7/2021 (Có mặt); Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thành phố Hà Nội

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1974, CCCD số: [...], do Cục Q về trật tự xã hội cấp ngày 10/7/2021, (vắng mặt); Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 11/8/2025 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thúy T1 bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn M được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 16/12/1992 tại trụ sở UBND xã T, huyện S, thành phố Hà Nội nay là xã N, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn bà về sống cùng ông M tại thôn T, xã T, nay là xã N, thành phố Hà Nội. Vợ chồng ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống. Ông, bà đã tự hòa giải và được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông M.

- Về con chung: Bà và ông M có 04 con chung là Nguyễn Văn B, sinh ngày 26/7/1993; Nguyễn Thị N, sinh ngày 08/12/1996, Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 29/4/2003 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 01/11/2005. Các con chung đều đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung: Bà không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn M đã được tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông M vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, không gửi bản tự khai và bất cứ tài liệu chứng cứ gì. Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương đến nơi cư trú của ông M nhưng ông vắng nhà nên Tòa án không ghi được lời khai ông đối với các yêu cầu khởi kiện của bà T và không tiến hành hòa giải cho ông bà được.

Tại phiên tòa: Bà T giữ nguyên ý kiến như đã trình bày và không thay đổi, bổ sung gì.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết; xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, thụ lý vụ án, giao thông báo thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định; Nguyên đơn tuân thủ đúng quy định pháp luật. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Việc thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ và đúng quy định pháp luật; Vụ án được giải quyết đúng thời hạn; Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án, phiên tòa diễn ra đúng quy định pháp luật.Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị HĐXX quyết định: + Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của bà T, xử cho bà T được ly hôn ông M.

+ Về con chung: Bà T và ông M có 04 con chung là Nguyễn Văn B, sinh ngày 26/7/1993; Nguyễn Thị N, sinh ngày 08/12/1996, Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 29/4/2003 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 01/11/2005. Các con chung đều đã thành niên, ông bà không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung, về bất động sản là nhà ở, quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, tài sản riêng, về công sức, về nợ: Ông bà không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

+ Về án phí: Bà T phải chịu tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật (được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Hà Nội).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP . nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về việc ly hôn. Bị đơn trong vụ án là ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1974, hiện cư trú tại: Thôn T, xã N, thành phố Hà Nội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội.

Ông Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông M.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn M được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 16/12/1992 tại trụ sở UBND xã T, huyện S, thành phố Hà Nội (theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/12/1992 của UBND xã T) nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông M. Ông M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông không đến Tòa án làm việc, không gửi bản tự khai cũng như bất cứ tài liệu chứng cứ gì. Tòa án đã phối hợp cùng chính quyền địa phương đến nơi cư trú của ông M nhưng ông không có nhà nên Tòa án không ghi được lời khai của ông.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T Hội đồng xét xử nhận thấy: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm, vun đắp hạnh phúc, làm tròn nghĩa vụ của vợ chồng. Qua xác minh tại gia đình hai bên, chính quyền địa phương cũng như trình bày của đương sự được biết: Vợ chồng ông bà đã không còn gần gũi, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Mặc dù ông bà đã tự hòa giải nhưng quan hệ vợ chồng không cải thiện được nên ông bà đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Bản thân ông M không chủ động, tích cực bảo vệ cuộc hôn nhân của mình, không thực hiện nghĩa vụ của đương sự, không chấp hành các giấy triệu tập của tòa án và không đến Tòa án để làm việc nên Tòa án không tổ chức hòa giải cho vợ chồng ông bà được. Đến nay bà T vẫn kiên quyết xin ly hôn ông M. Như vậy có thể thấy mâu thuẫn giữa bà T, ông M đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn khởi kiện của bà T, cho bà T được ly hôn ông M là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn M có 04 con chung là Nguyễn Văn B, sinh ngày 26/7/1993; Nguyễn Thị N, sinh ngày 08/12/1996, Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 29/4/2003 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 01/11/2005. Các con chung đều đã thành niên, ông bà không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp công sức đóng góp, nợ chung ông bà không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 3, 8, 9, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T, cho bà Nguyễn Thị T, được ly hôn ông Nguyễn Văn M.

2. Về con chung: Xác định bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn M có 04 con chung là Nguyễn Văn B, sinh ngày 26/7/1993; Nguyễn Thị N, sinh ngày 08/12/1996, Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 29/4/2003 và Nguyễn Thành C, sinh ngày 01/11/2005.

Các con chung đều đã thành niên, ông bà không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T, ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/25E số 0009960 ngày 02 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án Dân sự thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

- Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Khu vực 7- Hà Nội;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Nội Bài, thành phố Hà Nội (Giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/12/1992 của UBND xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội);
  • - Lưu: Văn Phòng, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN _ CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Vũ Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 767/2025/HNGĐ-ST ngày 17/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 767/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger