Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 762/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29-9-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Nguyên Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Hương

2/ Ông Nguyễn Phúc Duy Khang

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 317/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1452/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/8/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 2460/2025/QÐST-HNGĐ ngày 04/9/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Mai Mộng H, sinh năm 1984

CCCD số: [...]

Cư trú: Số I đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).

Bị đơn: Ông Vũ Quang T, sinh năm 1986

CCCD số: [...]

Cư trú: Số I đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 07 tháng 02 năm 2025, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được và quá trình tranh tụng tại tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị Mai Mộng H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Vũ Quang T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ( nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 13/9/2010. Cuộc sống chung thời gian đầu hạnh phúc, thỉnh thoảng cũng có mâu thuẫn nhưng tự giải quyết. Tuy nhiên đến năm 2024 thì nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế, ông T là người vô tâm, không quan tâm đến bà, không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vả, cuộc sống chung không hạnh phúc. Bà đã tách ra sống riêng từ cuối năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, ông T có mong muốn hàn gắn nhưng bà không thấy sự thay đổi của ông T nên bà không đồng ý. Tại phiên tòa hôm nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Quang T.

Về con chung: Bà và ông Vũ Quang T có 02 con chung Vũ Đức T1, sinh ngày 24/6/2011 và Vũ Ngọc Thảo N, sinh ngày 30/3/2015. Hiện nay các con chung đang sinh sống với bà. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi các con chung.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định không có.

Tại bản tự khai ngày 21/4/2025 bị đơn ông Vũ Quang T trình bày: ông và bà T quen biết nhau khoảng 01 năm thì tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2010, hôn nhân tự nguyện. Từ khi kết hôn vợ chồng chung sống với ba mẹ vợ, cuộc sống chung vợ chồng bình thường. Tới thời điểm khoảng hơn 01 năm trở lại đây công việc làm ăn không còn thuận lợi, vợ cũng mất việc, 2 vợ chồng có làm ăn chung, mâu thuẫn chính là do cuối năm 2024 ông có lấy số tiền của vợ khoảng gần 30 triệu mà không nói với vợ trước khi ông về quê ăn tết cùng bố mẹ ruột. Hiện tại vợ chồng vẫn sống chung trong gia đình vợ, còn ngủ thì ngủ riêng phòng từ đầu năm 2025. Ông yêu cầu Tòa án cho vợ chồng được hòa giải.

Về con chung: Vợ chồng có 2 người con chung Vũ Đức T1, sinh ngày 24/6/2011 và Vũ Ngọc Thảo N, sinh ngày 30/3/2015. Ông vẫn chăm sóc con Vũ Đức T1 đầy đủ cho đến nay. Con Vũ Ngọc Thảo N được vợ chăm lo.

Về tài sản chung: Ông xác định vợ chồng có 01 chiếc xe tải và 01 chiếc xe máy do ông đứng tên.

Về nợ chung: Ông đang nợ ngân hàng S và V số tiền khoảng 100.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bà Đỗ Thị Mai Mộng H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Vũ Quang T đã được Toà án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đỗ Thị Mai Mộng H được ly hôn ông Vũ Quang T. Giao hai con chung Vũ Đức T1, sinh ngày 24/6/2011 và Vũ Ngọc Thảo N, sinh ngày 30/3/2015 cho bà Đỗ Thị Mai Mộng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi các con chung. Về tài sản chung do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về nợ chung xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ đơn xin ly hôn của bà Đỗ Thị Mai Mộng H thì quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Tại thời điểm Toà án thụ lý vụ án, bị đơn có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại địa chỉ số I đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) nên căn cứ theo khoản 2 Điều 1 Luật 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2025); điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu

vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Xét, bị đơn ông Vũ Quang T đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy bà Đỗ Thị Mai Mộng H và ông Vũ Quang T có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 100/2010, quyển số 2/2010 ngày 13/9/2010 nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp.

Tại bản tự khai ông T thừa nhận cuộc sống chung vợ chồng đã có mâu thuẫn nhưng ông có mong muốn được hàn gắn. Tuy nhiên, Tòa án Tòa án đã tạo điều kiện về mặt thời gian để ông T và bà H hàn gắn nhưng không có kết quả. Tòa án đã tống đạt các thông báo về phiên hòa giải cho ông T đến Tòa để hòa giải với bà H nhưng ông T vắng mặt không có lý do, bà H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nữa, từ đó cho thấy thực tế tình trạng hôn nhân của đôi bên đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, khả năng đoàn tụ không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, việc bà H có đơn yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ lời khai của bà H, ông T phù hợp với các bản sao Giấy khai sinh số 156/2011, quyển số 01/2011 ngày 04/7/2011 và Giấy khai sinh số 111/2015 ngày 01/3/2023 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, đủ căn cứ xác định bà H và ông T có hai con chung tên Vũ Đức T1, sinh ngày 24/6/2011 và Vũ Ngọc Thảo N, sinh ngày 30/3/2015. Hiện nay các con chung đang sống chung với bà H, căn cứ nguyện vọng của hai con là được sống với mẹ Đỗ Thị Mai Mộng H, Hội đồng xét xử giao hai con chung cho bà Đỗ Thị Mai Mộng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi các con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Mặc dù tại bản tự khai ông Vũ Quang T xác định trong thời kỳ hôn nhân ông và bà H có tài sản chung là 01 chiếc xe tải và 01 chiếc xe máy do ông đứng tên. Tuy nhiên cả ông T và bà H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Tại bản tự khai ngày 21/4/2025 ông T trình bày ông có nợ Ngân hàng S và V số tiền khoảng 100.000.000 đồng, bà H cho rằng vợ chồng không có nợ chung. Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi có bản tự khai trên thì Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông T nhưng ông T không đến Tòa để cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào về khoản tiền mà ông T còn nợ Ngân hàng S và V như ông T trình bày nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của bà H xác định không có nợ chung.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 bà Đỗ Thị Mai Mộng H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24P, số 0081760 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H). Bà Đỗ Thị Mai Mộng H đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 2 Điều 1 Luật 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố Tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải đối thoại (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2025);

Căn cứ Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Đỗ Thị Mai Mộng H được ly hôn ông Vũ Quang T.

2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung Vũ Đức T1, sinh ngày 24/6/2011 và Vũ Ngọc Thảo N, sinh ngày 30/3/2015 cho bà Đỗ Thị Mai Mộng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đỗ Thị Mai Mộng H không yêu cầu ông Vũ Quang T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

3. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí: Bà Đỗ Thị Mai Mộng H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24P, số 0081760 ngày 19/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H). Bà Đỗ Thị Mai Mộng H đã nộp đủ án phí.

5. Quyền và thời hạn kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSNDKV2 – TPHCM;
  • - THADSTPHCM;
  • - Đương sự;
  • - UBND phường Tam Bình,
  • TP.Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Nguyên Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 762/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 762/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger