Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

Bản án số: 76/2025/HSST

Ngày 28 tháng 11 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và ông Lê Thúc Giang.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Hồng Anh là Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/TLST - HS ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 76/2025/TLST - HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Thào A T, sinh ngày 15/4/2007; sinh trú quán: Bản H, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái (cũ), nay là xã P, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 08/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố không xác định và con bà Thào Thị S; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/06/2025 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh P, (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Thào A T: Bà Phạm Thị Kim L - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm T4 tỉnh Phú Thọ, (có mặt).

2/ Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 15/12/1995; sinh trú quán: Thôn A, xã N, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (cũ), nay là xã N, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và con bà Hà Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Hiện tại, bị cáo đang tại ngoại, (có mặt).

Bị cáo Nguyễn Thanh T1 có thời gian phục vụ quân đội từ năm 2014 đến năm 2016 thì suất ngũ về địa phương sinh sống.

+ Bị hại:

1/ Anh Vàng A T3, sinh năm 2007; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái (cũ), nay là xã T, tỉnh Lào Cai, (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của anh Vàng A T3: Bà Giàng Thị D, sinh năm 1990; nơi cư trú: Bản T là, xã H, huyện M, tỉnh Yên Bái (cũ), nay là xã T, tỉnh Lào Cai (bà D là mẹ anh T3), (ông Giàng A V là bố anh T3 đã chết).

Người đại diện theo ủy quyền của gia đình anh T3: Ông Giàng A L1, sinh năm 1992 (ông L1 là chú ruột của anh T3); nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái (cũ), nay là xã T, tỉnh Lào Cai, (vắng mặt).

2/ Anh Đào Văn N, sinh năm 1988; nơi cư trú; Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B (cũ), nay là xã B, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Thào Thị S, sinh năm 1989; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái (cũ), nay là xã T, tỉnh Lào Cai, (có mặt).

Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (cũ), nay là thôn A, xã N, tỉnh Tuyên Quang, (có mặt).

+ Người làm chứng:

Anh Vàng A S1, sinh năm 2008; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái (cũ), nay là xã T, tỉnh Lào Cai, (vắng mặt).

Anh Sùng A D1, sinh năm 2008; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái (cũ), nay là xã T, tỉnh Lào Cai, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 24/4/2025, Thào A T, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 21G1 - 210.97 chở sau là anh Vàng A T3 cùng với anh Vàng A S1 điều khiển xe mô tô chở sau là anh Sùng A D1 (tất cả đều là những người ở cùng xã với T) đi từ phòng trọ của mình ở xã B, tỉnh Phú Thọ để về quê ở tỉnh Lào Cai. T và anh S1 điều khiển xe đi trên đường tỉnh lộ 302 theo hướng đi từ xã B lên Quốc lộ B để về (T và anh S1 đi theo sự chỉ dẫn của Google M). T và anh S1 điều khiển xe đi đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ giữa đường T giao với đường tỉnh lộ 305B thuộc địa phận khu vực thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), nay là xã B, tỉnh Phú Thọ, T điều khiển xe mô tô đi thẳng qua ngã tư với tốc độ khoảng 60km/h (theo lời khai của T). Lúc này, T có quan sát phía bên phải hướng đi của T có ánh đèn xe đi đến ngã tư (sau này Tỉnh biết là xe của T1) nhưng do chủ quan là sẽ chạy qua ngã tư trước T1 nên T đã không giảm tốc độ mà cho xe chạy thẳng để đi qua ngã tư. Khi đi vào ngã tư điểm giao nhau, xe mô tô của T đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát: 22B2 -733.03 do Nguyễn Thanh T1 điều khiển chở sau là anh Đào Văn N. Hậu quả, anh Vàng A T3 ngồi phía sau xe của T bị ngã tử vong tại chỗ; anh Đào Văn N ngồi phía sau xe của T1 bị thương, được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ. Bản thân Nguyễn Thanh T1 và Thào A T đều bị thương và được người dân đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V.

Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan điều tra Công an tỉnh V (cũ), nay là Công an tỉnh P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám nghiệm các phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn giao thông theo quy định của pháp luật.

+ Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ điều tra đã tiến hành thu giữ:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WinerX, Biển kiểm soát: 21G1 - 210.97; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Exciter Biển kiểm soát 22B2 – 733.03 và tiến hành thu giữ các mẫu máu, nước tiểu để tiến hành giám định.

- Thu giữ hình ảnh video của hộ dân nơi xảy ra vụ tai nạn và lưu giữ vào 01 USB nhãn hiệu SanDisk.

+ Kết quả giám định thử thi, giám định thương tích, nồng độ cồn, ma túy, định giá tài sản.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số: 1186 /KLGĐTT – PC09 - PY ngày 20/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận:

“Nguyên nhân chết của Vàng A T3 đa chấn thương (chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, chấn thương bụng kín”.

Tại Bản kết luận giám định thương tích số: 37/KL ngày 27/5/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh P, kết luận:

“Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Thào A T tại thời điểm giám định là 10%”.

Nguyễn Thanh T1 và anh Đào Văn N có đơn xin từ chối giám định thương tích nên không xác định được thương tích của T1 và anh N.

Tại các Kết luận giám định số: 1100 và 1101/KL – KTHS ngày 06/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:

“Mẫu máu thu của Nguyễn Thanh T1, có nồng độ cồn (E) là 146,683mg/100ml; không tìm thấy chất ma túy thường gặp trong mẫu máu thu của Nguyễn Thanh T1”

Tại các Kết luận giám định số: 1098 và 1099/KL – KTHS ngày 06/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:

“Không tìm thấy chất ma túy thường gặp, không phát hiện thấy nồng độ cồn trong mẫu máu gửi giám định của Thào A T”.

Tại các Kết luận giám định số: 1106 và 1107/KL – KTHS ngày 06/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận:

“Không tìm thấy chất ma túy thường gặp, không phát hiện thấy nồng độ cồn trong mẫu máu gửi giám định của Vàng A T3”.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 59/KL – HĐĐGTS ngày 23/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B (cũ), kết luận:

“Thiệt hại hư hỏng đối với xe mô tô Biển kiểm soát: 21G1 - 210.97 là 3.061.630đ (Ba triệu, không trăm sáu mươi một nghìn, sáu trăm ba mươi đồng).

Thiệt hại hư hỏng đối với xe mô tô Biển kiểm soát: 22B2 - 733.03 là 2.703.300đ (hai triệu, bảy trăm linh ba nghìn, ba trăm đồng)”.

Tổng thiệt hại tài sản của 02 xe mô tô là 5.764.930đ (Năm triệu, bảy trăm sáu mươi tư nghìn, chín trăm ba mươi đồng).

Tại bản Cáo trạng số: 39/CT – VKSKV8 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 đã truy tố các bị cáo Thào A T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và Nguyễn Thanh T1 về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã phân tích lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác đã khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cở sở để xác định, bị cáo Thào A T và Nguyễn Thanh T1 phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Thào A T 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo đang cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là cấm hành nghề lái xe. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề xuất quan điểm về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án và án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Thào A T đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn, bố chết sớm, lại là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặt biệt khó khăn nên kiến thức pháp luật còn hạn chế; trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo cũng bị thương tích trong vụ tai nạn giao thông nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới khung theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự với mức án đề nghị là 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, cải tạo rèn luyện bản thân trở thành người công dân tốt, vừa mang tính giáo dục răn đe bị cáo vừa bảo đảm chính sách khoan hồng của pháp luật.

Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến bổ sung gì và cũng không ai có ý kiến gì tham gia tranh luận.

Anh Đào Văn N và người đại diện hợp pháp của gia đình anh T3, tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai và đều thừa nhận lời khai của các bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra là đúng; anh N không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường; gia đình anh T3 xác nhận là đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác. Anh N và người đại diện hợp pháp của gia đình anh T3 đều đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo T và bị cáo T1 đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh V (cũ), nay là tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên (cũ), nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đầy đủ về trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không có kiến nghị hay khắc phục gì.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Thào A T và Nguyễn Thanh T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố mà không có lời tự bào chữa nào khác. Xét lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác đã khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản hiện trường và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 24/4/2025, Thào A T, không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định (trên người không có nồng độ cồn, ma túy) điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 21G1 - 210.97 của bà Thào Thị S (bà S là mẹ T) chở anh Vàng A T3 phía sau đi trên đường tỉnh lộ 302 để ra Quốc lộ B đi về tỉnh Lào Cai. Khi T điều khiển xe mô tô đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ nút giao nhau giữa đường tỉnh lộ 302 với đường tỉnh lộ 305B thuộc địa phận khu A, xã B, tỉnh Phú Thọ. Tỉnh đi với tốc độ khoảng 60km/h thì quan sát thấy xe mô tô Biển kiếm soát: 22B2 - 733.03 do Nguyễn Thanh T1 đã có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định nhưng trong người có nồng độ cồn E là 146,683mg/100ml, điều khiển chở anh Đào Văn N phía sau đi trên đường tỉnh lộ 305B hướng xã B đi Quốc lộ B, đang đi vào ngã tư với tốc độ khoảng từ 50km đến 60km/h. Do cả T và T1 đều chủ quan nghĩ là sẽ chạy qua ngã tư trước nên cả T và T1 đều không cho xe giảm tốc độ mà chạy thẳng để qua ngã tư dẫn đến hai xe va chạm với nhau. Hậu quả, làm cho anh Vàng A T3 tử vong tại chỗ; Nguyễn Thanh T1 và Đào Văn N bị thương nhẹ; Thào A T bị thương tích tổn hại 10% sức khỏe, 02 xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.

Với hành vi trên của bị cáo Thào A T đã vi phạm vào khoản 1, Điều 9; điểm d, khoản 3, Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Hành vi của Nguyễn Thanh T1 đã vi phạm quy định tại khoản 2, Điều 9; điểm d, khoản 3, Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ:

Điều 9 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ quy định:

“Các hành vi bị nghiêm cấm:

1. Người điều khiển xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật...

2. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn...”

Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ quy định.

“Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe

1........

3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn trong các trường hợp sau đây:

a).........

d) Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ...”

Với hành vi nêu trên, Thào A T phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều luật quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác.....

a)Làm chết người;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

...”

Nguyễn Thanh T1 đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều luật quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác....

a) Làm chết người;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a)

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...;

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác; làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình các bị hại; gây hoang mang lo lắng cho những người tham gia giao thông. Trong những năm qua, mặc dù Nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm giảm bớt các vụ tai nạn giao thông nhưng tình trạng vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông vẫn chưa thuyên giảm, thiệt hại về người và tài sản do các vụ giao thông gây ra còn rất nghiêm trọng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng chủ yếu vẫn là do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông kém, một phần là không hiểu biết về các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông, một phần là do người tham gia giao thông biết nhưng cố tình vi phạm.

Trong vụ án này, bị cáo T không có giấy phép lái xe theo quy định nên chưa đủ điều kiện để tham gia giao thông; bị cáo T1 tuy đã có Giấy phép lái xe nhưng khi tham gia giao thông, tình trạng cơ thể có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định. Các bị cáo mặc dù chưa đủ điều kiện để tham gia giao thông nhưng do chủ quan nên vẫn tham gia giao thông rồi gây tai nạn cho người khác. Chứng tỏ, các bị cáo là người có ý thức coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm khắc trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều không ai có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội, các bị cáo đều là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, các bị cáo tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Quá trình điều tra, truy tố anh Đào Văn N là bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa, cụ C là ông nội của anh T3 cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo; bị cáo T là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, nên nhận thức pháp luật hạn chế; hoàn cảnh gia đình cũng hết sức khó khăn, không có bố. Bị cáo T1 đã thực hiện xong nghĩa vụ quân sự, bản thân các bị cáo T1 và T cũng bị thương và là bị hại của nhau và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho nhau. Vì vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Do các bị cáo được hưởng từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, lại có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên ở trên là phù hợp.

Tại phiên tòa, bà L Trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa cho bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới khung hình phạt 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng và cho hưởng án treo. Xét thấy, mặc dù tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, nhưng bị cáo T được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xem xét cho bị cáo T được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật và tạo cơ hội cho bị cáo rèn luyện, tu dưỡng trở thành người có ích. Riêng việc người bào chữa đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T để cho bị cáo T được hưởng mức hình phạt dưới khung hình phạt Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo đang cư trú giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ giúp các bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

[3]. Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra, Thào A T và Nguyễn Thanh T1 đã có thái độ tích cực tác động nhờ gia đình bồi thường giúp cho gia đình bị hại. Ông Nguyễn Văn T2 là bố đẻ của bị cáo T1 tự nguyện bồi thường giúp T1 cho gia đình anh T3 177.950.000đ (Một trăm bảy mươi bảy triệu, chín trăm lăm mươi nghìn đồng); bà Thào Thị S là mẹ đẻ của bị cáo T tự nguyện bồi thường giúp T cho gia đình anh T3 57.500.000đ (Năm mươi bảy triệu, lăm trăm nghìn đồng). Anh Vàng A L2 là người đại diện theo ủy quyền của gia đình anh T3 xác nhận, gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên của T1 và T đồng thời không có yêu cầu đề nghị gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với T1 và T, ông T2 và bà S không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại số tiền mà ông T2 và bà S đã bỏ ra bồi thường giúp các bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh Đào Văn N, không có yêu cầu đề nghị gì đối với Nguyễn Thanh T1 và Thào A T và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với T1 và T. Các bị cáo T1 và T, không ai có yêu cầu gì đối với thương tích của mình.

Đối với phần hư hỏng của 02 xe mô tô do T và T1 điều khiển, bà S và T1 đều tự nguyện sửa chữa, khắc phục, không ai có yêu cầu đề nghị gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Trong vụ án này, bị cáo T chưa được cấp Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T; bị cáo T1 nghề nghiệp chính hiện tại không phải là lái xe do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung, là cấm lái xe đối với bị cáo T1.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô Honda WinerX, biển kiểm soát: 21G1 - 210.97, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của bà Thào Thị S (mẹ của Thào A T. Ngày 05/4/2025, T đã tự ý lấy xe mô tô trên (không được sự đồng ý của bà Thào Thị S) để đi xuống tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) tìm việc làm, bà S không biết T lấy xe, bà biết T chưa có giấy phép lái xe mô tô nên không đồng ý cho T đi xe và yêu cầu T mang xe về cho bà. Ngày 21/6/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh V (cũ) đã trả lại cho bà S chiếc xe trên. Sau khi nhận lại tài sản, bà S không có yêu cầu đề nghị gì khác. Việc cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà S là phù hợp.

Đối với xe mô tô YAMAHA, Exciter biển kiểm soát: 22B2 - 733.03, quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên là tài sản của Nguyễn Thanh T1. Ngày 21/6/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh V đã trả lại xe mô tô trên cho T1. Sau khi nhận lại tài sản, T1 không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Đối với các mẫu vật còn lại sau giám định gồm: Các mẫu HT231.25-1, HT231.25-2 theo Kết luận giám định AND số HT213.25 ngày 08/5/2025 của V1; Mẫu A1 (đã sử dụng hết) và mẫu M1 cùng toàn bộ bao gói niêm phong theo Kết luận giám định số 1236; Mẫu A5 (mẫu đã sử dụng hết) và mẫu M5 cùng toàn bộ bao gói niêm phong theo Kết luận giám định số 1234; Mẫu A2, A3 (mẫu đã sử dụng hết) và mẫu M3-4 cùng toàn bộ bao gói niêm phong theo Kết luận giám định số 1235, đều cùng ngày 25/5/2025 của phòng K Công an tỉnh V (cũ) không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 USB đã qua sử dụng, nhãn hiệu SanDisk được hoàn lại theo Kết luận giám định số 1432 ngày 16/6/2025 của phòng K Công an tỉnh V (cũ) cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ làm tài liệu chứng cứ.

[6]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Bị cáo Nguyễn Thanh T1 phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Thào A T là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Thào A T và Nguyễn Thanh T1 phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Thào A T 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ Điều 328 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Thào A T do bị cáo bị xử phạt bằng hình phạt không phải là hình phạt tù nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Thào A T cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Lào Cai nơi bị cáo đang cư trú giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Thanh T1 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh T1 cho Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo đang cư trú giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu để tiêu hủy: Các mẫu vật còn lại sau giám định gồm: các mẫu HT231.25-1, HT231.25-2 theo Kết luận giám định AND số HT213.25 ngày 08/5/2025 của V1; Mẫu A1 (đã sử dụng hết) và mẫu M1 cùng toàn bộ bao gói niêm phong theo Kết luận giám định số 1236; Mẫu A5 (mẫu đã sử dụng hết) và mẫu M5 cùng toàn bộ bao gói niêm phong theo Kết luận giám định số 1234; Mẫu A2, A3 (mẫu đã sử dụng hết) và mẫu M3-4 cùng toàn bộ bao gói niêm phong theo Kết luận giám định số 1235, đều cùng ngày 25/5/2025 của phòng K Công an tỉnh V (cũ).

(Có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng do Phòng Thi hành án dân sự số 8, tỉnh Phú Thọ lập ngày 20 tháng 11 năm 2025).

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB đã qua sử dụng, nhãn hiệu SanDisk được hoàn lại theo Kết luận giám định số 1432 ngày 16/6/2025 của phòng K Công an tỉnh V (cũ).

Bị cáo Nguyễn Thanh T1, phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào A T.

Các bị cáo; người bảo vệ quyền lợi của bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại, người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 8;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan THA. HS CA tỉnh Phú Thọ;
  • - THA.DS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã nơi các bị cáo đang cư trú;
  • - Các bị cáo và người bảo vệ quyền lợi của bị cáo Tỉnh;
  • - Người tham gia tố tụng khác.
  • - Lưu HS vụ án; bộ phận theo dõi THA.HS; VT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bích Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HSST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 76/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 24/4/2025, Thào A Tỉnh, không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định (trên người không có nồng độ cồn, ma túy) điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 21G1 - 210.97 của bà Thào Thị Su (bà Su là mẹ Tỉnh) chở anh Vàng A Thênh phía sau đi trên đường tỉnh lộ 302 để ra Quốc lộ 2 đi về tỉnh Lào Cai. Khi Tỉnh điều khiển xe mô tô đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ nút giao nhau giữa đường tỉnh lộ 302 với đường tỉnh lộ 305B thuộc địa phận khu 1, xã Bình Nguyên, tỉnh Phú Thọ. Tỉnh đi với tốc độ khoảng 60km/h thì quan sát thấy xe mô tô Biển kiếm soát: 22B2 - 733.03 do Nguyễn Thanh Tùng đã có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định nhưng trong người có nồng độ cồn Ethanol là 146,683mg/100ml, điều khiển chở anh Đào Văn Nội phía sau đi trên đường tỉnh lộ 305B hướng xã Bình Nguyên đi Quốc lộ 2, đang đi vào ngã tư với tốc độ khoảng từ 50km đến 60km/h. Do cả Tỉnh và Tùng đều chủ quan nghĩ là sẽ chạy qua ngã tư trước nên cả Tỉnh và Tùng đều không cho xe giảm tốc độ mà chạy thẳng để qua ngã tư dẫn đến hai xe va chạm với nhau. Hậu quả, làm cho anh Vàng A Thênh tử vong tại chỗ; Nguyễn Thanh Tùng và Đào Văn Nội bị thương nhẹ; Thào A Tỉnh bị thương tích tổn hại 10% sức khỏe, 02 xe mô tô bị hư hỏng nhẹ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger