|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST Ngày: 01-12-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lã Văn Minh.
Bà Hoàng Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 339/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị D, sinh ngày 13 tháng 11 năm 1988.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.
Số định danh cá nhân: 024188010146.
(vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
-
Bị đơn: Anh Lưu Văn T, sinh ngày 02 tháng 7 năm 1990.
Nơi thường trú: Tổ dân phố H, phường P, tỉnh Bắc Ninh.
Hiện đang chấp hành án tại đội 3, phân trại số 1 – Trại giam N.
Số định danh cá nhân: 024090025153.
(vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 24-10-2025 và những lời khai tiếp theo của nguyên đơn chị Hoàng Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lưu Văn T kết hôn tự nguyện, không bị ép buộc và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh) vào năm 2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không thống nhất được về việc phát triển kinh tế gia đình. Năm 2023 anh T vi phạm pháp luật, hiện đang phải chấp hành hình phạt tù tại đội 3, phân trại số 1, Trại giam N. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng, không thể hàn gắn. Do vậy, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T không có con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Lưu Văn T trình bày:
Anh và chị Hoàng Thị D kết hôn vào ngày 21 tháng 10 năm 2022, tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh quá trình chung sống không có mâu thuẫn gì đến năm 2023 thì anh vi phạm pháp luật và chấp hành án tại trại giam N thì chị D có mối quan hệ với người đàn ông khác trong khi chị và anh vẫn là vợ chồng hợp pháp. Nay chị D xin ly hôn thì anh đồng ý vì anh đã hết tình cảm với chị D, do đang phải chấp hành án không thể đến tòa án làm việc được nên anh xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Về con chung: Vợ chồng không có con chung, về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Hoàng Thị D, bị đơn anh Lưu Văn T đều vắng mặt. Hội đồng xét xử công bố lời khai, tóm tắt nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị D được ly hôn anh Lưu Văn T.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Hoàng Thị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
- Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị D khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Lưu Văn T. Bị đơn anh Lưu Văn T có nơi đăng ký thường trú tại tổ dân phố H, phường P, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh tiếp tục giải quyết, xét xử vụ án.
- Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị D, bị đơn anh Lưu Văn T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị D, anh T.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Hoàng Thị D và anh Lưu Văn T tự nguyện kết hôn, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Đ, tỉnh Bắc Ninh) vào ngày 21 tháng 10 năm 2022. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
- Trong quá trình chung sống chị D xác định vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, xích mích. Chị D cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, chị D giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh T. Bị đơn anh Lưu Văn T cũng đồng ý ly hôn với chị D. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hoàng Thị D và anh Lưu Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Hoàng Thị D được ly hôn anh Lưu Văn T.
- Về con chung: Chị Hoàng Thị D và anh Lưu Văn T không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Hoàng Thị D, anh Lưu Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Hoàng Thị D do chị Hoàng Thị D thuộc trường hợp “đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”.
- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết ly hôn, con chung, nghĩa vụ chịu án phí giữa chị Hoàng Thị D và anh Lưu Văn T phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 51, 53, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị D được ly hôn anh Lưu Văn T.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Hoàng Thị D.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Hoàng Thị D, bị đơn là anh Lưu Văn T không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Ngọc Minh |
Bản án số 76/2025/HNGĐ-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 76/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 339/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn”.
