Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/DS-ST
Ngày: 30/9/2025
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Hào và bà Lê Thị Đông Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Vũ Tài, Thư ký viên

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2025/TLST- DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng); Địa chỉ: 2 N, phường X, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Quách Đình Vũ T; Chức vụ: Trưởng phòng PGD Nam Tuy Hòa Ngân hàng TMCP S chi nhánh P (Theo quyết định ủy quyền ký hợp đồng/thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng số 4039/2024/QĐ-PC ngày 27/12/2024 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP S). Ông T có mặt

- Bị đơn: Bà Đặng Thị Hồng Đ, sinh năm 1976; Trú tại: khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk. Vắng đến lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/5/2025 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn Ngân hàng trình bày: Ngân hàng có cấp tín dụng cho bị đơn bà Đ theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3103672 ngày 19/01/2024; số tài khoản thẻ 3204343119; hạn mức thẻ 30.000.000 đồng; mục đích tiêu dùng. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà Đ không trả nợ cho Ngân hàng và đến ngày 25/3/2025 Ngân hàng đã thông báo chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ khoản cấp tín dụng thành nợ quá hạn. Ngân hàng đã liên lạc, làm việc nhiều lần nhưng bị đơn bà Đ hứa hẹn, né tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay. Đến ngày 19/5/2025, bị đơn bà Đ còn nợ Ngân hàng 37.021.850 đồng (nợ gốc 31.233.586 đồng; lãi quá hạn 5.788.264 đồng). Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Đ trả nợ số nợ trên và tiền lãi phát sinh thêm kể từ ngày 20/5/2025 theo lãi suất tại hợp đồng cấp tín dụng mà hai bên đã ký kết. Đồng thời bị đơn bà Đ phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật.

Tòa án tiến hành hòa giải không được do bị đơn bà Đ luôn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng

Tại phiên tòa: Nguyên đơn Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Đ có nghĩa vụ trả đủ số tiền đến ngày 30/9/2025 là 40.059.082 đồng (gốc 28.633.586 đồng, lãi quá hạn 11.425.496 đồng). Kể từ ngày 01/10/2025, bị đơn bà Đ còn phải chịu tiền lãi theo lãi suất tại giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân mà các bên đã ký kết. Nguyên đơn xác nhận ngày 20/8/2025, bà Đ có trả 2.600.000 đồng và Ngân hàng đã thu trừ vào nợ gốc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại đơn khởi kiện ngày 19/5/2025, Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc bị đơn bà Đ trả nợ vay 37.021.850 đồng (nợ gốc 31.233.586 đồng; lãi quá hạn 5.788.264 đồng) phát sinh từ giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3103672 ngày 19/01/2024. Tòa án đã triệu tập bị đơn bà Đ đến để giải quyết vụ án. Tại biên bản giao giấy tờ, hồ sơ, tài liệu ngày 01/8/2025 (do Văn phòng T2 thực hiện), bà Đ ghi ý kiến: “Tôi đã thỏa thuận với ngân hàng rồi, ngày 20/8/2025 chị sẽ thanh toán theo quy định hằng tháng”. Tại biên bản giao giấy tờ, hồ sơ, tài liệu ngày 15/9/2025 (do Văn phòng T2 thực hiện), bà Đ ghi ý kiến: “Tôi đã trả nợ cho Ngân hàng ngày 20/8/2025 rồi và theo hằng tháng đóng tiền vào ngày 20 hàng tháng. Tôi xin xét xử vắng mặt”. Bà Đ là bị đơn có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, tham gia phiên tòa, cung cấp chứng cứ (Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự) nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt do đó Tòa án tiến hành giải quyết vụ án.

[2] Đối với yêu cầu trả nợ gốc của nguyên đơn Ngân hàng: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng cung cấp các tài liệu: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3103672 ngày 19/01/2024; Tóm tắt sao kê của bị đơn bà Đ; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Xét, các tài liệu chứng cứ này, Hội đồng xét xử xét thấy: Các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn Ngân hàng giao nộp đều bảo đảm các thuộc tính của chứng cứ được quy định tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự nên có tính hợp pháp, có giá trị chứng minh bị đơn ông T1 được Ngân hàng cấp thẻ cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3103672 ngày 19/01/2024; quá trình giao dịch đến ngày 19/5/2025, bị đơn bà Đ còn nợ Ngân hàng 37.021.850 đồng (nợ gốc 31.233.586 đồng; lãi quá hạn 5.788.264 đồng) do không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã khởi kiện.. Bị đơn bà Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng buộc bị đơn bà Đ có nghĩa vụ trả tiền vay gốc 28.633.586 đồng cho Ngân hàng. Do khoản nợ của bà Đ đã quá hạn nên Ngân hàng không đồng ý cho bà Đ trả dần hằng tháng và việc bà có ghi ý kiến “trả hàng tháng vào ngày 20” thì đây chỉ là ý kiến đơn phương của bà và không được phía Ngân hàng đồng ý.

[3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng buộc bị đơn bà Đ trả lãi quá hạn 11.425.496 đồng đến ngày xét xử sơ thẩm: Đối chiếu việc tính lãi quá hạn, phí với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng được sửa đổi bổ sung năm 2017; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3103672 ngày 19/01/2024; Tóm tắt sao kê của bị đơn bà Đ và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S, Hội đồng xét xử thấy việc tính lãi quá hạn của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận. Kể từ ngày 01/10/2025, bị đơn bà Đ còn phải chịu tiền lãi, phí phát sinh theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3103672 ngày 19/01/2024.

[4] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị đơn bà Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.003.000 đồng và hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn Ngân hàng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15-Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng được sửa đổi năm 2017; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S về việc yêu cầu bị đơn bà Đặng Thị Hồng Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay phát sinh từ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3103672 ngày 19/01/2024.
  2. Buộc bị đơn bà Đặng Thị Hồng Đ có nghĩa vụ trả đủ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền vay đến ngày 30/9/2025 là 40.059.082 đồng (gốc 28.633.586 đồng, lãi quá hạn 11.425.496 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01/10/2025), bị đơn bà Đặng Thị Hồng Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 3103672 ngày 19/01/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Đặng Thị Hồng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.003.000 đồng và hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 926.000 đồng cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006103 ngày 29/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa (cũ)
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND khu vực 11 – Đắk Lắk;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Lưu AV và HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 76/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn Ngân hàng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger