Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK

Bản án số: 76/2025/DS-ST

Ngày 26 – 9 – 2025

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Minh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Tập

2. Ông Bùi Ngọc Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu V, sinh năm 1968 (Có mặt)

Địa chỉ: Số F B, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Số F B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk).

- Bị đơn: Ông Phan C, sinh năm 1965 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số F B, phường B, tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ cũ: Số F B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Thu V trình bày:

Tôi và ông Phan C tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn ngày 20/12/1988 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk). Quá trình chung sống trong thời gian đầu thì vợ chồng hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung với nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng từ năm 2015 cho đến nay. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay. Nay tôi xác định không còn tình cảm với ông Phan C nữa nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Phan C.

Về con chung: Tôi và ông Phan C có 02 con là cháu Phan Thành C1, sinh ngày 10/5/1990 và cháu Phan Thiện N, sinh ngày 01/6/1997. Hiện nay 02 cháu đã đủ tuổi thành niên, phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chúng tôi không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại các lời khai trong quá trình giải quyết bị đơn ông Phan C trình bày:

Tôi và bà Nguyễn Thu V tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn ngày 20/12/1988 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk). Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc nhưng đến tháng 10 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính tình vợ chồng không hợp, trong công việc hàng ngày từ việc nhỏ đến việc lớn thì tự ai người đó làm theo ý của mình không có sự đồng thuận, vợ không làm theo ý chồng còn chồng không làm theo ý của vợ nên xảy ra cãi vã nhau. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng, kéo dài và sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 cho đến nay Nay tôi xác định vẫn còn tình cảm với bà Nguyễn Thu V. Việc bà Nguyễn Thu V yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với tôi, thì nguyện vọng của tôi là không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thu V và xin được đoàn tụ. Trường hợp bà Nguyễn Thu V cương quyết xin ly hôn với tôi thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Tòa án giải quyết cho bà Nguyễn Thu V ly hôn với tôi thì nguyện vọng của tôi như sau:

Về con chung: Tôi và bà Nguyễn Thu V có 02 con là cháu Phan Thành C1, sinh ngày 10/5/1990 và cháu Phan Thiện N, sinh ngày 01/6/1997. Hiện nay đã đủ tuổi thành niên, phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân nên trường hợp Tòa án giải quyết cho chúng tôi ly hôn thì chúng tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chúng tôi tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về thẩm quyền, tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39, 195, 196, 203, 220 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thu V.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thu V được ly hôn với ông Phan C.

Về con chung: Bà Nguyễn Thu V và ông Phan C có 02 con là Phan Thành C1, sinh ngày 10/5/1990 và Phan Thiện N, sinh ngày 01/6/1997. Hiện nay đều đã đủ tuổi thành niên, phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân không yêu cầu nên không giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thu V và ông Phan Châu T giải quyết, không yêu cầu nên không giải quyết. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thu V và ông Phan C không có, không yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với bị đơn, đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; Bị đơn có địa chỉ tại Buôn M, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho các đương sự, quá trình làm việc các đương sự không hòa giải được với nhau, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà bị đơn vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, do vậy Toà án tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thu V và ông Phan C tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn ngày 20/12/1988 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Nguyên đơn xác định quá trình chung sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung với nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng, sống ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay. Nay không còn tình cảm với ông Phan C nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Phan C.

Bị đơn ông Phan C xác định quá trình chung sống đến tháng 10/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, trong công việc hàng ngày từ việc nhỏ đến việc lớn thì tự ai người đó làm theo ý của mình không có sự đồng thuận, vợ không làm theo ý chồng còn chồng không làm theo ý của vợ nên xảy ra cãi vã nhau. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng, kéo dài và sống ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay. Ông vẫn còn tình cảm với bà Nguyễn Thu V nên nguyện vọng của ông không đồng ý ly hôn và xin được đoàn tụ.

Xét thấy, qua lời khai của các đương sự và kết quả xác minh tại địa phương thì thực tế mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thu V và ông Phan C có xảy ra, mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, ông bà đã sống ly thân nhau từ tháng 10/2024 cho đến nay. Bà Nguyễn Thu V đã cương quyết xin ly hôn với ông Phan C, vì vậy nếu kéo dài quan hệ hôn nhân thì không đạt được mục đích của hôn nhân. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thu V, giải quyết cho bà Nguyễn Thu V được ly hôn với ông Phan C.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thu V và ông Phan C có 02 con là Phan Thành C1, sinh ngày 10/5/1990 và Phan Thiện N, sinh ngày 01/6/1997. Hiện nay đều đã đủ tuổi thành niên, phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thu V và ông Phan Châu T giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thu V và ông Phan C không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí:

Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thu V.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thu V được ly hôn với ông Phan C.
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Thu V và ông Phan C có 02 con là Phan Thành C1, sinh ngày 10/5/1990 và Phan Thiện N, sinh ngày 01/6/1997. Hiện nay đều đã đủ tuổi thành niên, phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân không yêu cầu nên không giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thu V và ông Phan Châu T giải quyết, không yêu cầu nên không giải quyết.
  4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thu V và ông Phan C không có, không yêu cầu nên không giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Nguyễn Thu V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2023/0011175 ngày 17/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND khu vực 1 - Đắk Lắk;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - UBND phường Tự An, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (Nay là
  • phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Giấy chứng nhận kết hôn
  • số 393 ngày 20/12/1988);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đại Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/DS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 76/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger