|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 754/2025/HS-ST Ngày 01-12-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Đẹp;
Bà Lê Thị Mỹ;
Bà Trương Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025 tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - Cơ sở 2 (điểm cầu trung tâm) và Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H (điểm cầu thành phần) xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 1104/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6965/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Kim P, sinh năm 1985 tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); nơi cư trú: 48/4/15, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Kế toán trưởng Công ty W; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn T và bà Bùi Thị L; có chồng (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 10 tháng 9 năm 2024 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Kim P: Ông Lê Bảo Q - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), có mặt.
2
- Bị hại: Công ty TNHH W; địa chỉ: T đất số 24, tờ bản đồ số 45, ấp A, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh);
Đại diện theo pháp luật: Ông Song Yeun O, sinh năm 1957; nơi thường trú: Ssangyong A, Changdong M, D, S, Hàn Quốc; nơi tạm trú: Thửa đất số 24, tờ bản đồ số 45, ấp A, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh);
Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH W: Bà Phạm Hoàng Thị Mộng T1, sinh năm 1986; nơi cư trú: 2, khu phố A, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh), có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đoàn Thị Hoàng A, sinh năm 1992; nơi cư trú: B N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Ông Nguyễn Đức T2, sinh năm 1996; nơi thường trú: tổ A, khu phố A, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh), nơi tạm trú: khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh), có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Bà Trần Túy Hoàng P1, sinh năm 1975; nơi thường trú: 21/5 V, tổ E, khu phố I, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), nơi tạm trú: 23/15/18 L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh), có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Ông Nguyễn Cao K, sinh năm 1997; nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã N, tỉnh An Giang), nơi tạm trú: ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh), vắng mặt;
- Bà Ngô Thị Hồng T3, sinh năm 1985; nơi cư trú: 39, ô C, khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã C, tỉnh Đồng Tháp), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH W (viết tắt là Công ty W), địa chỉ: Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, TP .) do bà Song Yeun O, sinh năm 1957, Quốc tịch: Hàn Quốc làm Tổng Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật của Công ty. Trần Kim P làm Kế toán trưởng Công ty W từ tháng 4/2016 đến tháng 7/2021 thì nghỉ việc. Đoàn Thị Hoàng A là nhân viên kế toán và Nguyễn Thị Bé T4 là nhân viên kinh doanh của Công ty W.
Trần Kim P được giao nhiệm vụ báo cáo thuế, thanh toán lương và làm chế độ bảo hiểm xã hội cho nhân viên Công ty. Công ty W chi trả lương cho
3
người lao động thông qua hình thức chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của Công ty vào tài khoản cá nhân người lao động tại Ngân hàng TNHH MTV S1 – Chi nhánh B, địa chỉ: Số H Đại lộ B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, TP .). Để trả lương cho nhân viên, Công ty W giao cho P việc đăng ký mở tài khoản ngân hàng cho người lao động, nhận thẻ ATM từ Ngân hàng và giao cho người lao động. Đến kỳ lương hàng tháng, P làm bảng lương của nhân viên trình ông Paik In K1 – Giám đốc Công ty W duyệt. Tiếp đó, P làm Phụ lục (danh sách người lao động nhận tiền lương) trình Giám đốc duyệt đề nghị Ngân hàng S1 – Chi nhánh B chuyển tiền lương từ tài khoản Công ty W vào tài khoản của người lao động.
Ông Nguyễn Cao K làm công nhân tại Công ty W từ tháng 5/2016 đến khoảng cuối năm 2016. Ông K đăng ký mở tài khoản số [...] tại Ngân hàng S1 – Chi nhánh B để nhận tiền lương của Công ty. Tuy nhiên, khi ông K chưa nhận được thẻ ATM thì nghỉ việc nên P giữ thẻ ATM của ông K.
Quá trình làm việc, P lợi dụng nhiệm vụ được giao và sự thiếu kiểm tra của Giám đốc nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Công ty W. Thực hiện ý định, từ tháng 01/2017 khi soạn thảo Phụ lục (danh sách người lao động nhận tiền lương) Phước điền thêm tên ông Nguyễn Cao K, số tài khoản ngân hàng và số tiền lương vào Phụ lục, trình Giám đốc ký duyệt, sau đó gửi đến Ngân hàng S1 đề nghị chuyển tiền lương vào tài khoản của ông K do P quản lý. P sử dụng thẻ ATM chuyển tiền từ tài khoản của ông K đến tài khoản của P để chiếm đoạt. Từ tháng 01/2017 đến tháng 3/2019, P chiếm đoạt 342.430.000 đồng của Công ty W thông qua việc chuyển tiền vào tài khoản của ông K.
Bằng thủ đoạn tương tự, tháng 4/2018 P đăng ký mở thêm 02 tài khoản ngân hàng của hai người không làm việc tại Công ty W là ông Nguyễn Đức T2 số [...] và bà Trần Túy Hoàng P1 số [...], sau đó đưa ông T2 và bà P1 vào danh sách nhận tiền lương trình Giám đốc ký duyệt chuyển tiền vào tài khoản của ông T2, bà P1. P sử dụng thẻ ATM chuyển tiền từ tài khoản của ông T2, bà P1 qua tài khoản của P để chiếm đoạt tiền của Công ty W. Từ tháng 4/2018 đến tháng 7/2021, Công ty W chuyển vào tài khoản của ông Nguyễn Đức T2 1.257.481.989 đồng và tài khoản của bà Trần Túy Hoàng P1 986.368.300 đồng. Tổng cộng P chiếm đoạt của Công ty W thông qua tài khoản ngân hàng của ông K, ông T2 và bà P1 là 2.586.280.289 đồng.
Để chiếm đoạt thêm tiền của Công ty W, P còn tự ý nâng khống giờ tăng ca, tiền lương cho P. Từ tháng 4/2017 đến tháng 12/2020, P đã 24 lần nâng khống tiền lương cho P chiếm đoạt 263.032.066 đồng của Công ty W. Ngoài ra, P còn tự nâng khống giờ tăng ca, tiền lương cho Nguyễn Thị Bé T4, Đoàn Thị Hoàng A và ông Nguyễn Lê Q1 (Trưởng phòng nhân sự). Trong đó, 07 (bảy) lần
4
nâng khống tiền lương cho Nguyễn Thị Bé T4 với số tiền là 12.116.667 đồng; 07 lần nâng khống tiền lương cho Hoàng A với số tiền là 19.866.166 đồng; 01 lần nâng khống tiền thưởng cho ông Q1 với số tiền là 5.090.000 đồng.
Đối với Nguyễn Thị Bé T4 và Đoàn Thị Hoàng A sau khi nghỉ việc, đã hoàn trả cho Công ty W số tiền được P nâng khống.
Đối với số tiền 5.090.000 đồng mà P đã nâng khống tiền thưởng cho ông Nguyễn Lê Q1, Công ty W không yêu cầu.
Như vậy, tổng số tiền mà Trần Kim P đã chiếm đoạt của Công ty W là 2.849.312.355 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Trần Kim P khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Căn cứ Bản kết luận giám định số 3658 ngày 01/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) xác định: Chữ viết tên “Nguyễn Đức T2” trên tờ khai đăng ký mở tài khoản của Nguyễn Đức T2 so với chữ viết họ tên của Trần Kim P trên các tài liệu mẫu do P viết ra.
Căn cứ Bản kết luận giám định số 5612 ngày 12/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) xác định: Chữ viết tên “Trần Túy Hoàng Phượng” trên tờ khai đăng ký mở tài khoản ngân hàng là do Đoàn Thị Hoàng A viết ra. Chữ ký không ghi họ tên trên các bảng lương hàng tháng của Trần Túy Hoàng P1 do Trần Kim P ký ra.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của Trần Kim P mặt sau bị vỡ có hình quả táo.
- - 01 (một) sổ bảo hiểm xã hội của Trần Kim P.
- - Gia đình bị cáo Trần Kim P nộp số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng).
* Trách nhiệm dân sự:
Bà Phạm Hoàng Thị Mộng T1 đại diện theo ủy quyền của Công ty W yêu cầu Trần Kim P bồi thường 2.849.312.355 đồng. Quá trình điều tra bổ sung, gia đình bị cáo P đã trả cho Công ty W số tiền 300.000.000 đồng.
Cáo trạng số: 78/CT-VKS-P3 ngày 03 tháng 11 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Kim P về tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội trong đó vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng truy tố bị cáo Trần Kim P về tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo P là kế toán trưởng Công ty, là người có chức vụ quyền hạn đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa thông tin những người lao động đã nghỉ việc và
5
nâng khống bảng lương, nhiều lần chiếm đoạt với tổng số tiền 2.849.312.355 đồng.
Hành vi của bị cáo là hết sức nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh khi nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam đầu tư. Quá trình điều tra, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nộp số tiền 420.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Kim P với mức án 20 (hai mươi) năm tù về tội “Tham ô tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Trần Kim P có trách nhiệm bồi thường cho Công ty W số tiền 2.849.312.355 đồng được khấu trừ số tiền 420.000.000 đồng mà gia đình bị cáo P đã nộp trong quá trình điều tra.
Về xử lý vật chứng: trả lại cho Trần Kim P 01 điện thoại di động; 01 sổ Bảo hiểm xã hội.
Nguời bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh, điều khoản mà Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Trần Kim P. Tuy nhiên cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo; bị cáo còn cha mẹ già, con còn nhỏ không ai phụng dưỡng, chăm sóc. Hiện nay bị cáo còn tài sản để thực hiện việc thi hành án, khắc phục hậu quả cho bị hại, nhưng do tài sản của bị cáo còn một số vướng mắc về pháp lý nên chưa giải quyết bán tài sản để khắc phục hậu quả; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sớm được trở về chăm lo cho gia đình, giải quyết tài sản khắc phục hậu quả cho bị hại.
Bị cáo thống nhất với phần trình bày của người bào chữa, bị cáo không tham gia tranh luận gì thêm;
Bị hại không tham gia tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm được đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
6
[1] Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Kim P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Từ tháng 01/2017 đến tháng 6/2021, Trần Kim P lợi dụng chức vụ là Kế toán trưởng, được giao nhiệm vụ báo cáo thuế, thanh toán lương và làm chế độ bảo hiểm xã hội cho nhân viên Công ty W, P đã nâng khống số tiền lương của P, thêm tên 03 cá nhân không làm việc tại Công ty là ông Nguyễn Cao K, bà Trần Túy Hoàng P1, ông Nguyễn Đức T2 vào Phụ lục (danh sách người lao động nhận lương), trình Giám đốc ký duyệt, sau đó gửi đến Ngân hàng S1 - Chi nhánh B đề nghị chuyển tiền lương vào tài khoản, chiếm đoạt tổng cộng 2.849.312.355 đồng. Lời khai nhận của Trần Kim P phù hợp với tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, Trần Kim P phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tham ô tài sản” với tổng số tiền chiếm đoạt là 2.849.312.355 đồng, để sử dụng vào mục đích cá nhân. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Kim P về tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi cá nhân mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án cho phù hợp.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
7
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho phía công ty với tổng số tiền là 420.000.000 (bốn trăm hai mươi triệu) đồng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Trần Kim P có trách nhiệm bồi thường cho Công ty W số tiền 2.849.312.355 đồng được khấu trừ số ti ền 420.000.000 (bốn trăm hai mươi triệu) đồng gia đình bị cáo đã nộp; trong đó nộp khắc phục hậu quả tại Cơ quan điều tra số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng và trực tiếp thanh toán cho công ty số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu); Trần Kim P còn phải tiếp tục bồi thường cho Công ty W số tiền 2.429.312.355 (hai tỷ bốn trăm hai mươi chín triệu ba trăm mười hai nghìn ba trăm năm mươi lăm) đồng.
[7] Đối với Nguyễn Thị Bé T4: khi P nghỉ việc tại Công ty W có để lại thẻ ATM của bà Trần Túy Hoàng P1 trong hộc bàn làm việc. Bé T4 phát hiện thẻ ATM của bà P1, trên thẻ có ghi mật khẩu nên giữ thẻ này. Sau đó, Bé T4 mở tài khoản ngân hàng của 02 người không làm việc tại Công ty tên Trần Quốc T5 và Nguyễn Thị Hồng T6, thêm tên 03 người vào Phụ lục (danh sách người lao động nhận tiền lương) để chiếm đoạt số tiền 177.993.000 đồng của Công ty W. Sau khi Công ty phát hiện vụ việc, Bé T4 đã chuyển 177.993.000 đồng vào tài khoản của Công ty W để hoàn trả. Quá trình điều tra không đủ căn cứ chứng minh Nguyễn Thị Bé T4 đồng phạm với Trần Kim P, nên ngày 19/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) quyết định tách vụ án để điều tra, xử lý bằng vụ án khác là phù hợp.
[8] Đối với Đoàn Thị Hoàng A là nhân viên kế toán, cấp dưới của Trần Kim P, cung cấp giấy chứng minh nhân dân (bản phô tô) và ghi tờ khai đăng ký mở tài khoản ngân hàng của bà Trần Túy Hoàng P1 theo yêu cầu của P. Hoàng A không biết việc P sử dụng tài khoản ngân hàng của bà P1 để chiếm đoạt tiền của Công ty W, không được P chia tiền chiếm đoạt, cơ quan điều tra xác định không đủ căn cứ xác định có vai trò đồng phạm với P là đúng quy định của pháp luật.
[9] Đối với bà Trần Túy Hoàng P1, ông Nguyễn Cao K, Nguyễn Đức T2 không biết Trần Kim P sử dụng giấy tờ cá nhân để mở tài khoản ngân hàng, chiếm đoạt tiền của Công ty W cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
[10] Đối với Giám đốc Công ty W khai: khi Trần Kim P trình bảng lương và phụ lục danh sách đề nghị Ngân hàng chuyển khoản lương cho người lao động, thì Giám đốc Công ty không kiểm tra chi tiết, không đối chiếu bảng lương
8
và phụ lục, chỉ so sánh số tổng của bảng lương tháng này với bảng lương tháng trước, nếu chênh lệch trên 20.000.000 đồng thì yêu cầu P giải trình trước khi Giám đốc ký duyệt. Cơ quan điều tra ban hành văn bản kiến nghị Giám đốc Công ty W có biện pháp quản lý, nắm bắt được số lượng người lao động Công ty, đặc biệt cần kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa bảng lương và phụ lục yêu cầu Ngân hàng chuyển tiền chi trả lương cho người lao động trước khi ký duyệt là đúng quy định của pháp luật.
[11] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của Trần Kim P mặt sau bị vỡ có hình quả táo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Trần Kim P.
- - Đối với 01 (một) sổ bảo hiểm xã hội của Trần Kim P là giấy tờ tùy thân nên trả lại cho Trần Kim P.
[12] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng, đề nghị mức hình phạt là phù hợp, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[13] Ý kiến trình bày của người bào chữa cho bị cáo là không phù hợp nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[14] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định và có trách nhiệm bồi thường nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 353, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025), xử phạt bị cáo Trần Kim P 20 (hai mươi) năm tù về tội “Tham ô tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/9/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; buộc bị cáo Trần Kim P có trách nhiệm tiếp tục thanh toán cho Công ty TNHH W số tiền 2.429.312.355 (hai tỷ bốn trăm hai mươi chín triệu ba trăm mười hai nghìn ba trăm năm mươi lăm) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
9
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; trả lại cho Trần Kim P:
- - 01 (một) sổ bảo hiểm xã hội mang tên Trần Kim P;
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, số I (khe sim): 353907103385406; điện thoại bị nứt màn hình, mặt sau bị vỡ, không mở được nguồn, không kiểm tra tình trạng hoạt động.
Công ty TNHH W được quyền liên hệ với Thi hành án dân sự Thành phố H để nhận số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng theo ủy nhiệm chi ngày 29/4/2025.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/15/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh)).
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Trần Kim P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 80.586.000 (tám mươi triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần bồi thường.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được giao đúng quy định của pháp luật.
10
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Lộc |
Bản án số 754/2025/HS-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tham ô tài sản
- Số bản án: 754/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Kim Ph - tội Tham ô tài sản
